vanban.org

Bản án 15/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Xử ly hôn giữa chị Lữ Thị H và anh Nguyễn Văn D. 2/ Về con chung: Giao chị Lữ Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Lữ Minh A (con trai), sinh ngày 08/3/2012. Anh D không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lữ Thị H- Nguyễn Văn D - Kiện ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST
Ngày 22-6-2020
V/v: “Tranh chấp kiện ly hôn,

nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ – TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Duy.

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chương và ông Trịnh Văn Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 226/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “ Kiện xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020; Quyết định Hoãn phiên tòa số 08/2020/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2020 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 15/2020/TB-TA ngày 18 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lữ Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

( Phiên toà có mặt chị H. Vắng mặt anh D không có lý do. )

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung, các lời khai tại Tòa án và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lữ Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lữ Thị H và anh Nguyễn Văn D kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã L (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Hà Nam vào ngày 23/9/2010. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu khoảng 06 tháng rồi mới đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn được nên từ cuối năm 2011 đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình ly thân vợ chồng không quan tâm chăm sóc đến nhau và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Lữ Minh A (con trai), sinh ngày 08/3/2012. Khi ly hôn chị H xin nuôi con chung và không đề nghị anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Anh Nguyễn Văn D là bị đơn trong vụ án cố tình không lên làm việc. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và xác minh ở nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh D cố tình trốn tránh nghĩa vụ của mình. Do đó Tòa án vẫn tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.

* Nguyện vọng của cháu Nguyễn Lữ Minh A: Nếu bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với mẹ để mẹ chăm sóc và nuôi dạy cháu.

* Quan điểm của chính quyền địa phương: Về vấn đề hôn nhân và giải quyết con chung của vợ chồng chị H anh D, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn chị Lữ Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trước đó tại Toà án. Chị thay đổi quan điểm không đề nghị anh D cấp dưỡng nuôi con nếu được nuôi con chung vì từ khi cháu Minh A sinh ra đến nay một mình chị trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc anh D không quan tâm đến con chung.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), những người tham gia tố tụng; ý kiến về việc giải quyết vụ án.

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

+ Việc tuân theo pháp luật của HĐXX và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay HĐXX và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại khoản 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Sau khi trình bày và phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét quan điểm, nguyện vọng của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định:

Căn cứ điều 28, 35, 39, 68, 144, 147, 227,228 Bộluật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điều 51, 56, 57, 58, 81, 82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lữ Thị H.

- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lữ Thị H và anh Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Giao chị Lữ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Lữ Minh A (con trai), sinh ngày 08/3/2012. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đề cập.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Văn D có hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 thì vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Lữ Thị H và anh Nguyễn Văn D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng là bị đơn tại phiên tòa: Tòa án đã tiến hành tống đạt về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Nguyễn Văn D. Ông Nguyễn Sỹ D là bố đẻ anh D đang sinh sống cùng anh D đã nhận thay anh D và đã giao tận tay anh D nhưng anh D vẫn không có mặt do đó việc xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

* Về nội dung

[3] Cuộc hôn nhân giữa chị Lữ Thị H và anh Nguyễn Văn D là hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam vào ngày 23/9/2010, nên đã thoả mãn các điều kiện, trình tự thủ tục kết hôn được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lữ Thị H, HĐXX thấy:

Sau khi kết hôn vợ chồng chị Lữ Thị H đã có một thời gian chung sống hạnh phúc và vợ chồng đã có 01 con chung. Quá trình chung sống không đủ để vợ chồng hiểu và thông cảm cho nhau nên năm 2011 vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cách sống, quan điểm sống của hai bên không hợp nhau. Chị H cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống ngày một bất đồng. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn được nên từ năm 2011 đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Chị H thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn muốn chấm dứt tình trạng hôn nhân để có cuộc sống mới. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không tồn tại đã lâu nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lữ Thị H là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

[4] Về con chung: Vợ chồng chị H anh D có một con chung là Nguyễn Lữ Minh A (con trai), sinh ngày 09/3/2012. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Minh A do chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Cháu Minh A cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Xét yêu cầu xin nuôi con chung của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay chị H có chỗ ở, có việc làm và thu nhập ổn định, từ khi vợ chồng ly thân đến nay chị H vẫn một mình nuôi cháu Minh A khôn lớn trưởng thành, tình cảm mẹ con gắn bó vì vậy yêu cầu xin nuôi con chung của chị H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Lữ Thị H. Chị H không đề nghị anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị H.

[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 143; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điều 51,54, 56, 57, 58, 81, 82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Xử ly hôn giữa chị Lữ Thị H và anh Nguyễn Văn D.

2/ Về con chung: Giao chị Lữ Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Lữ Minh A (con trai), sinh ngày 08/3/2012. Anh D không cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3/ Về tài sản, công nợ: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4/ Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp 300.000đ. Chị H được đối trừ với 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2015/0004373 ngày 02/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Hà Nam.

5/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm chị H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ