vanban.org

Bản án 15/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị Th.

Xử : Cho chị Nguyễ n Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Chí A. Giao con chung là Nguyễn Chí B, sinh ngà y 16/5/2012 cho chị Th tiếp tụ c nuôi dưỡ ng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Th ly hôn anh A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị Th.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST
Ngày 22/6/2020
Về việc Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quố c Trung và ông Viêm Văn Doã n

Thư ký phiên tòa: Bà Hạp Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễ n Thị Mai Anh - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 68/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp việc nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễ n Thị Th, sinh năm 1987. Có mặt;

Nơi ĐKHKTT: Khu Trà Xuyên , phường Kh, thành phố bắc Ninh , tỉnh Bắc Ninh;

Nơi công tá c: Trườ ng Tiể u họ c Ch, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh

Bị đơn: Anh Nguyễn Chí A, sinh năm 1978. Vắng mặt;

Nơi ĐKHKTT: Khu Trà Xuyên, phườ ng Kh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/12/2019, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, chị Nguyễ n Thị Th trình bày: Chị Th kết hôn với anh Nguyễn Chí A vào ngày 23/12/2010. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Kh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Nay là phườ ng Kh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh ). Sau khi kết hôn chị Th về chung số ng vớ i anh A ngay. Vợ chồ ng chung số ng cù ng gia đì nh anh A tại khu Trà Xuyên , phườ ng Kh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Cuộ c số ng chung vợ chồ ng hò a thuậ n hạ nh phú c đế n năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân do chị Th nghi ngờ anh A có quan hệ tình cảm v ới người phụ nữ khác . Mặ t khá c, năm 2017 anh A ra quân, chuyể n là m công việ c khá c. Công việ c anh A lự a chọ n là là m quả n lý tại quán Karaoke . Khi anh A chọn công việc này vợ chồng đã không đồng thuậ n. Vì đặc thù công việc và mâu thuẫn tình cảm trước đó nên anh A thườ ng xuyên không về nhà , không quan tâm đế n chị Th và con. Đế n thá ng 9/2019 chị Th và con đã chuyển đến nơi chị Th công tá c là trườ ng Tiể u họ c Ch , thị xã T , tỉnh Bắ c Ninh sinh số ng. Trước đó, chị Th đã nhiề u lầ n trao đổ i vớ i anh A về việ c giả i quyế t ly hôn nhưng anh A không muố n ly hôn mà muố n duy trì tì nh trạ ng ly thân để thuận lợi trong việc sống chung với người phụ nữ khác . Chị Th nhậ n thấ y rằ ng giữ a chị và anh A không cù ng quan điể m số ng , môi trườ ng công việ c củ a hai vợ chồ ng trá i ngượ c nhau. Chị Th không thể chấ p nhậ n anh A vớ i nhữ ng mố i quan hệ phứ c tạ p, không là nh mạ nh. Vì vậy chị Th đã quyế t đị nh đề nghị Tò a giả i quyế t ly hôn anh A.

Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Chí B, sinh ngà y 16/5/2012. Hiện chị Th đang trực tiếp nuôi dưỡ ng. Chị Th đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡ ng con chung, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ : Không yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t.

Anh An từ chố i khai bá o và cũ ng không có văn bả n ghi ý kiế n gử i Tò a á n . Tòa án đã phối hợp với C ông an phườ ng Kh tiế n hà nh là m việ c vớ i ông Nguyễ n Văn H là bố đẻ anh A. Ông H cho biế t anh A và chị Th mâu thuẫ n do chị Th nghi ngờ anh A ngoại tình. Trong thờ i gian anh A và chị Th ly thân anh A đã phá nhà cũ xây nhà mới nên anh A cũng tranh thủ về t rông nom quả n lý công trì nh nhưng ít ngủ qua đêm ở nhà. Nhữ ng văn bả n tố tụ ng mà Tò a á n gử i cho anh A ông H, chị H nhậ n thay đề u đã giao lạ i cho anh A đầ y đủ , kịp thời nhưng do không muốn ly hôn nên anh A không đế n Tò a án làm việc.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị Th giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày tại Tòa án. Chị Th xin được ly hôn anh A. Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Chí B, sinh ngà y 16/5/2012. Chị Th đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡ ng con chung, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung. Về tà i sả n , công nợ : Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh An vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Cả Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đều chấp hành đúng những qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn không chấp hành đúng qui định, cố tình vắng mặt trong các phiên họp và phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điề u 84 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị Th, cho chị Th ly hôn anh Nguyễn Chí A. Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Chí B, sinh ngà y 16/5/2012, giao con chung cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡ ng . Vấn đề cấ p dưỡ ng nuôi con , tài sản, công nợ không yêu cầ u giả i quyế t nên không xem xé t giả i quyế t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 phiên tòa được mở vào ngày 24/5/2020. Tại phiên tòa này anh A vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử tiếp theo là ngày 22/6/2020. Tòa án đã tiến hành tống đạt quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ đến anh A nhưng tại phiên tòa hôm nay anh A vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh A.

Về nội dung: Chị Nguyễ n Thị Th và anh Nguyễn Chí A kết hôn với nhau ngày 23/12/2010, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Kh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị Th nghi ngờ anh A có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên không quan tâm đế n gia đì nh, không chăm lo vợ con. Năm 2017 anh A chuyể n công việ c, môi trườ ng anh A làm việc phức tạp , không phù hợ p vớ i điề u kiệ n số ng củ a chị Th và con. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến tháng 9/2019 chị Th đã chuyể n đế n nơi công tá c là trườ ng Tiể u họ c Ch sinh số ng vợ chồng chấ m dứ t mọ i quan hệ từ đó . Theo chị Th phía anh A không muố n ly hôn mà muố n duy trì tì nh trạ ng ly thân và thự c tế c hị Th và anh A không cò n chung số ng đoà n tụ do cuộ c số ng chung không hạ nh phú c . Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th với anh A.

Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Chí B, sinh ngà y 16/5/2012. Hiện chị Th đang trực tiếp nuôi dưỡ ng con chung. Chị Th đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡ ng con chung, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung. Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y, từ khi vợ chồ ng ly thân chị Th vẫ n trự c tiế p nuôi dưỡ ng con chung, cuộ c số ng củ a con đượ c đả m bả o , phát triển tốt. Chị Th có công việc, có thu nhập ổn định và nguyện vọng của cháu B cũng muốn tiếp tụ c chung số ng cù ng chị Th nên cầ n giao con chung cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng . Vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con chị Th không yêu cầ u nên không xem xé t giả i quyế t.

Vấn đề tài sản, công nợ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết

Về án phí: Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 204, Điều 220, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điề u 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị Th.

Xử : Cho chị Nguyễ n Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Chí A.

Giao con chung là Nguyễn Chí B, sinh ngà y 16/5/2012 cho chị Th tiếp tụ c nuôi dưỡ ng.

Vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con , tài sản chung , công nợ không yêu cầu giải quyế t nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2019/0000087 ngày 03/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Xác nhận chị Th đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án xử vắng mặt.

Cỡ chữ