- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị H - Cà Văn O"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________ Bản án số: 15/2020/HNGĐ- ST. Ngày: 08/7/2020. V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN – TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Lương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Thanh Hồng;
2. Ông Lường Văn Hịa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên .
Ngày 08/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2020/TLST – HNGĐ ngày 20/02/2020 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXX - ST ngày 10/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2020/QĐ - HPT ngày 26/6/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị H – Sinh năm 1997."có mặt". Địa chỉ: Tổ 1, Thị trấn Đ B Đ, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên.
2. Bị đơn: Anh Cà Văn O – Sinh năm 1994."vắng mặt". Địa chỉ: Đội 15B, xã T L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20/02/2020 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Đ B, chị Lò Thị H (nguyên đơn) trình bày:
1. Về hôn nhân: Tôi và anh Oai lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn Đ B Đ, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên từ ngày 20/3/2017. Trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 01/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi cọ, xô sát nhau, đời sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không thể hàn gắn được. Anh Oai đã bỏ đi từ ngày 15/01/2018 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Oai.
2. Về con chung: Chị Hoài khai vợ chồng có 01 con chung là: Cà Thị Mai Oanh, sinh ngày 23/10/2017. Hiện nay cháu đang ở cùng với tôi, tôi có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Oai phải cấp dưỡng nuôi con.
3.Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có.
Đối với bị đơn Cà Văn O:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã gửi thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự, các đương sự đã nhận được thông báo của Tòa án, nhưng không có ý kiến gì. Sau đó Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật như: Thông báo cho các đương sự đến Tòa án để viết bản tự khai, cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu tại Tòa án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Những thủ tục thông báo này Tòa án đã gửi bảo đảm qua đường bưu điện theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng bị đơn Cà Văn O không thực hiện và cũng không có ý kiến gì.
Tại đơn xác nhận tình trạng hôn nhân do chị Hoài giao nộp có xác nhận của UBND Thị trấn Đ B Đ ngày 04/6/2020 đã xác định sau khi đăng ký kết hôn hai vợ chồng ở với nhau một thời gian, sau đó hai vợ chồng sống không hạnh phúc và sống ly thân nhau, anh Oai đã bỏ đi về nhà bố mẹ đẻ từ ngày 15/01/2018 cho đến nay, không còn quan tâm đến vợ con đã hơn hai năm nay. Còn chị Hoài vẫn ở nhà cùng con gái ở tổ 1, Thị trấn Đ B Đ.
Án phí: Căn cứ Điều 147/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn được miễn toàn bộ án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật:
Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn chị Lò Thị H, Tòa án xác định đây là vụ án: Tranh chấp ly hôn.
.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoài xin ly hôn với anh Oai, anh Oai có hộ khẩu thường trú tại xã Thanh Luông, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ B theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39/BLTTDS năm 2015.
. Về điều luật áp dụng: Chị Hoài và anh Oai kết hôn năm 2017, đến năm 2020 thì chị Hoài khởi kiện xin ly hôn, nên Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoài và anh Oai lấy nhau có đăng ký kết hôn. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai người tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không thể chung sống với nhau và dẫn đến hai người sống ly thân từ tháng 01 năm 2018, từ đó cho đến nay hai người không đoàn tụ lần nào. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Hoài và anh Oai đang trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị Hoài xác định tình cảm của mình đối với anh Oai không còn nữa, hai người không còn thể hiện sự quan tâm đến nhau. Tại phiên tòa chị Hoài vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Oai. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của đương sự và để giải phóng cho chị Hoài khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoài và áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Lò Thị H và anh Cà Văn O.
. Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là cháu: Cà Thị Mai Oanh, sinh ngày 23/10/2017. Hiện nay cháu đang ở cùng với chị Hoài, chị Hoài có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Oai phải cấp dưỡng nuôi con.
.Về tài sản:
. Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.
. Tài sản chung, diện tích ruộng, nương: Không có.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147/BLTTDS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Hoài được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Đối với bị đơn Cà Văn O không có ý kiến gì và cũng không tham gia các phiên họp, hòa giải và phiên tòa do Tòa án tiến hành theo quy định của pháp luật, gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án và của đương sự khác. Điều này chứng tỏ bị đơn tự tước đi quyền, nghĩa vụ của mình trong thời gian giải quyết vụ án. Hơn thế nữa việc bị đơn không đến Tòa án theo giấy thông báo, triệu tập của Tòa án còn thể hiện bị đơn không tôn trọng Tòa án, không chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã gửi quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho các đương sự, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 228/BLTTDS, điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Cà Văn O.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 235, Điều 264 và Điều 267/BLTTDS (Năm 2015);
Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
1- Tuyên xử: Cho chị Lò Thị H được ly hôn với anh Cà Văn O.
2 - Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoài, giao con chung là cháu Cà Thị Mai Oanh, sinh ngày 23/10/2017 cho chị Hoài trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Oai không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
3- Về Tài sản: Không xem xét, giải quyết.
4- Về án phí: Căn cứ Điều 147/BLTTDS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Hoài được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
5- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKS huyện Đ B; - Chi cục THSDS H.ĐB; - Các đương sự; - UBND thị trấn ĐBĐ, HĐBĐ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lƣờng Văn Lƣơng |