- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THỊ THÙY V LY HÔN NGUYỄN TRẦN TRÍ H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Hoàng Thùy V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật TTDS Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2020/HNGĐ-ST Ngày 04/6/2020 “V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Viết Ân
2. Ông Vũ Xuân Vương
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Học – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Dương Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 80/2020/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 15/5/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Hoàng Thùy V, sinh năm: 1995
Địa chỉ: ấp 4, xã Th, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Trần Nguyễn Trí H, sinh năm: 1990
Địa chỉ: ấp 4, xã Th, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
(các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 17/02/2020, các lời khai bổ sung nguyên đơn chị Lê Hoàng Thùy V trình bày:
Chị và anh Trần Nguyễn Trí H trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu thương yêu nhau trong thời gian hơn 1 năm đến năm 2015 thì tiến tới hôn nhân với nhau, tổ chức đám cưới theo nghi thức truyền thống và đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau hạnh phúc đước khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị V trình bày: Do anh H thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà chửi bới, đánh đập chị, không quan tâm đến gia đình, không lo lắng làm ăn, ham chơi, mâu thuẫn này đã kéo dài từ năm 2018 cho đến nay. Ngoài ra một phần mâu thuẫn vợ chồng cũng xuất phát từ xích mích giữa chị và mẹ chồng trong thời gian sống chung với gia đình chồng, anh H thì nghe lời mẹ nên dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Nên chị và anh H đã sống ly thân nhau từ tháng 6/2018 đến nay. Do cuộc sống chung giữa chị và anh H không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.
Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Trần Quốc Kh, sinh ngày 30/4/2016. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kh, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 24/3/2020 chị V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Theo bản tự khai, các lời khai bổ sung bị đơn anh Trần Nguyễn Trí H trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị V về cơ sở tiến tới hôn nhân, quá trình hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh thừa nhận cuộc sống hôn nhân của anh và chị V có xảy ra mâu thuẫn là do trong cuộc sống chung giữa anh và chị Vân đôi khi có xảy ra bất đồng về vấn đề kinh tế trong gia đình, làm chỉ đủ ăn không dư giả như người ta nên vợ chồng có xảy ra cãi vả; anh lâu lâu mới nhậu nhẹt với anh em bạn bè chứ không nhậu say xỉn như chị V trình bày; anh vẫn làm ăn để lo cho kinh tế trong gia đình. Đến đầu năm 2020 anh bị tai nạn giao thông phải nằm điều trị tại bệnh viện hơn 3 tháng nên chị V đã nộp đơn yêu cầu ly hôn mà anh không biết lý do. Tuy nhiên, theo anh thì giữa anh và chị V tuy là có mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn không lớn, chưa đến mức trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm với chị V và mong muốn hàn gắn gia đình. Nay chị V xin ly hôn với anh thì anh không đồng ý ly hôn vì vẫn còn thương yêu chị V, không muốn gia đình tan vỡ. Nếu Toà án chấp nhận cho chị Vân được ly hôn với anh thì đối với con chung anh cũng yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Quốc Kh, không yêu cầu chị Vân cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 05/5/2020 anh H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Các tài liệu, chứng cứ:
Nguyên đơn và bị đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là: bản tự khai tường trình về nội dung tranh chấp; chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của anh chị (bản sao chứng thực); giấy khai sinh của cháu Quốc Kh (bản sao); Giấy đăng ký kết hôn (bản chính); bảng lương của chị Vân (bản chính).
* Quan điểm của Viện kiểm sát huyện C: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đều làm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo tố tụng, bị đơn không chấp hành và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo tố tụng. Cả nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.
Về nội dung: áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị V và anh H ly hôn; về tài sản chung và nợ chung: không xem xét; giao con chung là cháu Kh cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời không buộc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh H.
Đại diện VKS huyện C không có kiến nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng: chị Lê Hoàng Thùy V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Trần Nguyễn Trí H, xin nuôi dưỡng con chung nên đây là vụ án về "Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của BLTTDS.
Về tư cách tham gia tố tụng: chị V có đơn khởi kiện xin ly hôn anh H nên xác định chị V là nguyên đơn và anh H là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Nguyễn Trí H có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại: số nhà 195, tổ 2, ấp 4, xã Th, huyện C, tỉnh Đồng Nai, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện C.
Về thủ tục tố tụng: chị Lê Hoàng Thùy V và anh Trần Nguyễn Trí H có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt tại Tòa án nhân dân huyện C. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật TTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị V và anh H là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Hoàng Thùy V và anh Trần Nguyễn Trí H đã tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện C, tỉnh Đồng Nai vào năm 2015; đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72/2015 ngày 21/8/2015 đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị V nhận thấy:
Nguyên nhân dẫn đến việc chị yêu cầu ly hôn là do anh H thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà chửi bới, đánh đập chị, không quan tâm đến gia đình, không lo lắng làm ăn, ham chơi, một phần mâu thuẫn vợ chồng cũng xuất phát từ xích mích giữa chị và mẹ chồng trong thời gian sống chung với gia đình chồng, anh H thì nghe lời mẹ nên dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. cuộc sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Hoàng không còn, anh chị đã sống ly thân nhau nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng.
Tuy anh H không thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn hoàn toàn như chị V trình bày nhưng anh cũng thừa nhận giữa anh và chị V có xảy ra mâu thuẫn, anh cũng có nhậu nhẹt, vợ chồng cũng xảy ra cãi vã do vấn đề kinh tế trong gia đình, anh mong muốn được hàn gắn nhưng vợ chồng cũng không gặp nhau hòa giải để hóa giải mối quan hệ hàn gắn về chung sống với nhau. Mặt khác, hai người không có sự chia sẻ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có sự vi phạm tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và Gia đình. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã kéo dài thời gian hòa giải cho anh chị nhưng không thành, chị V vẫn kiên quyết xin ly hôn vì không còn tình cảm với anh H. Xét thấy anh chị đã sống ly thân nhau, tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật HN&GĐ chấp nhận cho chị V được ly hôn với anh H.
Về con chung: cả chị V và anh H đều có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Quốc Kh. Qua lời trình bày của anh chị thì thấy từ khi anh chị sống ly thân nhau thì chị V là người trực tiếp chăm sóc cháu Kh. Đồng thời chị V hiện tại làm công nhân có công việc và thu nhập ổn định với mức lương gần 7 triệu đồng/tháng. Anh H cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Kh nhưng anh không cung cấp được chứng cứ chứng minh về mức thu nhập của mình để đảm bảo cho việc nuôi con. Vì vậy, xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu Kh thì thấy nên giao cháu Khánh cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 luật HNGĐ.
Về cấp dưỡng nuôi con: do chị V không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời không buộc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hoàng.
Về tài sản chung và nợ chung: do không ai yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS thì chị V phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228 của BLTTDS;
Căn cứ Điều 19; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật HNGĐ năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Hoàng Thùy V.
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Lê Hoàng Thùy V được ly hôn với anh Trần Nguyễn Trí H.
- Về con chung: giao con chung cháu Trần Quốc Kh, sinh ngày 30/4/2016 cho chị Lê Hoàng Thùy V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi.
Tạm thời không buộc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Nguyễn Trí H.
Khi cần thiết chị V và anh H được quyền yêu cầu xin thay đổi người nuôi dưỡng và việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo đảm cho đến khi trưởng thành và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân.
- Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự khai không có nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: chị Lê Hoàng Thùy V phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí LHST. Chuyển 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp thành tiền án phí theo biên lai số 0001861 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ. Chị V đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND. tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H. C; - Thi hành án dân sự H. C; - Những người tham gia tố tụng; -UBND xã T; - Lưu án văn; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Thị Khuyên |