vanban.org

Bản án 15/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph: Buộc vợ chồng anh Trần Văn A và chị Trần Thi ̣ Nh phải thanh toán cho bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph số tiền gốc là 594.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Trần Văn A và chị Trần Thị Nh chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Về án phí: Anh Trần Văn A và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph: Buộc vợ chồng anh Trần Văn A và chị Trần Thi ̣ Nh phải thanh toán cho bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph số tiền gốc là 594.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/DS - ST
Ngày: 01 - 9 - 2020
“V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N -TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Đào Văn Rạng;

- Ông Đàm Văn Kiều.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Trình – Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 01/9/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2020/TLST - TCDS ngày 13 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST – TCDS ngày 10 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2020/QĐST – TCDS ngày 10/8/2020 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1949 và ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1946, cùng địa chỉ: Khu 4, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định.

Đa ̣i diê ̣n theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn Ph là bà Phạm Thị M, sinh năm 1949, địa chỉ: Khu 4, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Bị đơn: Chị Trần Thị Nh, sinh năm 1972 và anh Trần Văn A, sinh năm 1969, cùng đăng kí hộ khẩu thường trú tại: Khu 6, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. Địa chỉ liên hệ: Đội 8, Ng, HTX N xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt bà M; vắng mặt chị Nh, anh A

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph trình bày: Trên cơ sở quen biết vớ i vợ chồng anh Trần Văn A và chị Trần Thi ̣ Nh nên từ những năm 2011-2012, vợ chồng bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph có cho vợ chồng anh Trần Văn A, chị Trần Thi ̣ Nh vay tiền, mục đích để làm ăn kinh tế, số tiền được cho vay làm nhiều lần , hai bên cứ vay rồi trả cho nhau. Sau đó vợ chồng ông Ph và bà M có đòi nhiều lần nhưng vợ chồng anh A và chị Nh vẫn khất nợ không trả. Vì vậy ngày 05/02/2015 vợ chồng anh A và chị Nh có viết giấy cam kết vớ i vợ chồng ông Ph và bà M là khi nào đòi n ợ thì sẽ trả nhưng ông Ph bà M đa nhiều lẫ

̀n đòi nợ nhưng anh A và chị Nh không trả . Đến ngày 09/7/2017 hai bên đa chỗ

́t la ̣i số tiền vay là 594.000.000 đồng (năm trăm chin mươi bốn triê ̣u đồng ) và chị Nh đã viết

́

giấy vay tiền nhưng không viết lãi mà hai bên thoả thuận lãi xuất miệng với nhau. Tính đến t hờ i điểm khở i kiê ̣n là tháng 01 năm 2020 vợ chồng anh A và chị Nh không trả cho bà M và ông Ph số tiền gốc và tiền lai là 30 tháng. Trong quá trình̃ giải quyết vụ án vợ chồng ông Ph và bà M khở i kiê ̣n yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh A, chị Nh phải trả cho ông Ph, bà M số tiền gốc là 594.000.000 đồng và lãi theo thoả thuâ ̣n là 1,5%/tháng cho đến hết tháng 12/2019 là 267.300.000đồng. Nhưng nay vợ chồng bà M, ông Ph có quan điểm đề nghị vợ chồng chị Nh, anh A phải trả cho vợ chồng bà số tiền gốc là 594.000.000đồng và số tiền lãi từ tháng 7/2017 cho đến tháng 8/2020 với mức lãi xuất là 0,8%/1 tháng (38 tháng lãi là 180.576.000đồng). Tháng 12/2019 (AL) chị Nh có trả cho bà M số tiền 5.000.000đ là vào tiền lãi chứ không phải vào tiền gốc. Như vậy tại phiên toà hôm nay bà M ông Ph đề nghị Toà án buộc vợ chồng chị Nh, anh A phải trả cho vợ chồng bà số tiền gốc là 594.000.000đ và 175.576.000đ tiền lãi tổng cộng cả gốc và lãi là 769.576.000đồng.

Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án, bị đơn anh Trần Văn A và chị Trần Thị Nh

̀ đa đượ̃

c Toà án triê ̣u tâ ̣p nhiều lần nhưng anh A và chị Nh đều vắng mặt . Chị Nh, anh A đều xác nhâ ̣n có nhâ ̣n được giấy triê ̣u tâ ̣p của Toà á n nhưng chị Nh cho rằng chị không nợ Toà án, chị chi nợ̉ bà M nên chị không đến Toà án làm việc còn anh A do bâ ̣n đi làm ăn trả nợ nên không có mă ̣t làm viê ̣c vớ i Toà án được . Tại phiên toà hôm nay bị đơn chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn A vẫn vắng mặt không có lý do nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã lấy lờ i khai chị Nh và anh A thể hiện: Quá trình vay nợ phù hợp vớ i lờ i khai của bà Pha ̣m Thi ̣ M trình bày, đến năm 2017 hai bên đa chỗ

́t la ̣i số tiền vay là 594.000.000 đồng (năm trăm chin mươi bốn

́ triê ̣u đồng ). Ngày 28/12/2019 âm li ̣ch chị Nh đa trã ̉ thêm cho bà M số tiền là 5.000.000 đồng vào tiền gốc . Lãi suất cho vay ban đầu là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày sau trả được vài tháng thì lãi giảm xuống còn 1.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Nay ông Ph bà M khở i kiê ̣n đòi nợ, quan điểm của chị Nh là do gia đình bà làm ăn khó khăn nên bà đề nghị được trả dần gốc và không phải trả lãi đối vớ i khoản vay nói trên . Bị đơn anh Trần Văn A trình bày viê ̣c vay nợ là do chị Nh vay của bà M, ông Ph thì anh không biết nhưng sau khi bà M xuống đòi nợ thì anh mới biết và anh A kí vào giấy cam kết trả nợ. Mục đích vợ anh là chị Nh vay tiền của bà M, ông Ph để mua bán vâ ̣t liê ̣u xây dựng vì gia đình anh có bãi bán nguyên vật liệu xây dựng. Tuy nhiên do ngườ i mua vâ ̣t liê ̣u xây dựng còn đang nợ gia đinh

̀ anh nên gia đinh anh chưa có tiền trả nợ cho vợ chồng ông Ph, bà M. Nay quan

̀ điểm của anh A là công nợ thì trả dần , vợ chồng anh chưa có tiền trả nên anh xin khất để trả dần.

Quá trình tranh luận quan điểm của bà M, ông Ph không nhất trí với quan điểm của vợ chồng anh A chị Nh xin trả dần số tiền gốc và tiền lãi xin không trả. Bà M, ông Ph đề nghị vợ chồng anh A, chị Nh phải trả cả gốc và lãi cho vợ chồng bà. Còn số tiền 5.000.000đồng chị Nh trả hồi tháng 12/2019 (AL) là trả vào số tiền lãi chứ không phải trả vào tiền gốc như chị Nh trình bày với Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giảỉ quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Áp dụng Điều 463, 466, 468 và Điều 375 Bộ luật Dân sự: Buộc vợ chồng anh Trần Văn A và chị Trần Thị Nh có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Văn Ph số tiền gốc và lãi đến tháng 08/2020 là 769.576.000 đồng. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để tuyên án phí dân sự sơ thẩm đối với vợ chồng anh A chị Nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Toà án nhận định:

Về tố tụng: Chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn A cùng đăng kí hộ khẩu thường trú tại: Khu 6, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định và có đi ̣a chỉ liên hệ ta ̣i : Đội 8, N, HTX N xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp vay tài sản đối với anh A, chị Nh và Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa hôm nay anh A, chị Nh đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 26 và khoản 3 Điều 228 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thời hiệu và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ph, bà Phạm thị M cung cấp cũng như lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn chị Trần Thị Nh, anh Trần Văn A trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay xác định chị Nh, anh A vay tiền của ông Ph bà M từ năm 2012 đến tháng 07/2017 chốt nợ và viết giấy vay tiền còn lãi suất thoả thuận miệng là 1,5%/1 tháng, nhưng từ tháng 07/2017 cho đến nay chị Nh, anh A chưa trả lãi và gốc cho bà M, ông Ph nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Hai bên xác lập giao dịch dân sự năm 2017 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án. Về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự thì tranh chấp vẫn còn thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung vụ án: Trên cơ sở quen biết nhau nên từ những năm 2011 – 2012 vợ chồng ông Nguyễn Văn Ph, bà Phạm Thị M có cho chị Trần Thị Nh vay tiền, việc vay nợ diễn ra nhiều lần và cứ vay xong lại trả mục đích chị Nh vay về để kinh doanh phát triển kinh tế cho gia đình. Đến năm 2015 thì chị Nh không trả nợ cho vợ chồng ông Ph bà M nên bà M đã đến nhà đòi nợ chị Nh anh A nhiều lần và ngày 05/02/2015 vợ chồng anh A chị Nh đã viết giấy cam kết trả nợ với vợ chồng bà M, ông Ph. Đến ngày 09/7/2017 giữa hai bên chốt số nợ và chị Nh có viết giấy vay nợ với vợ chồng bà M ông Ph. Vợ chồng bà M, ông Ph đã đòi nợ nhiều lần vợ chồng chị Nh, anh A vẫn không trả. Nay vợ chồng ông Nguyễn Văn Ph, bà Phạm Thị M khởi kiện đề nghị vợ chồng anh Trần Văn A, chị Trần Thị Nh phải trả cho vợ chồng ông bà số tiền nợ gốc là 594.000.000đồng và số tiền lãi kể từ tháng 7/2017 cho đến hết tháng 08/2020 với mức lãi xuất là 0,8%/ 1 tháng. Phía anh A, chị Nh xác nhận có việc vay nợ giữa vợ chồng anh vớ i vợ chồng ông Ph, bà M, mục đích vay để buôn bán vật liệu xây dựng. Anh A có lời khai xác định anh không biết viê ̣c vay nợ giữa bà M và chị Nh, tuy nhiên khi bà M đến đòi nợ anh đã ký vào giấy cam kết trả nợ. Anh A cũng xác định viê ̣c vay nợ mu ̣c đich để phát triển kinh

́ tế chung cho gia đinh do đó anh A phải đồng trách nhiệm cùng chị Nh trả nợ cho

̀ nguyên đơn. Anh A, chị Nh khi được Toà án triê ̣u tâ ̣p để làm việc đều không có mă ̣t thể hiện sự chối bỏ và thoái thác trách nhiệm trả tiền cho ông Ph, bà M. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự giao nộp và lời khai của nguyên đơn , bị đơn Hội đồng xét xử xét thấy anh A và chị Nh đa kĩ Giấy cam kết ngày 05/2/2015 và

́ Giấy vay tiền viết tay ngày 09/7/2017 nhâ ̣n nợ số tiền gốc là 594.000.000 đồng vớ i ông Ph, bà M. Trong suốt quá trình ông Ph, bà M đòi nợ thì anh A, chị Nh cũng không có ý kiến gì về số tiền nợ gốc này. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận định yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.

Đối với lãi suất của khoản vay: Theo lờ i khai của chị Nh thì lãi suất cho vay ban đầu là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày sau khi trả được vài tháng thì lãi giảm xuống 1.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tuy nhiên chị Nh không cung cấp được tài liê ̣u chứ ng minh cho lờ i trinh bày của minh . Anh A, chị Nh đã được Tòa

̀

̀ án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt tại các buổi làm việc với Tòa án và tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành đối chất và hòa giải giữa các bên đương sự được. Đối với yêu cầu của nguyên đơn buô ̣c bi ̣ đơn trả lãi là 0,8%/ 1 tháng, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh do hai bên có thoả thuâ ̣n về lai nhưng không xã

́c đi ̣nh rõ lai suẫ

́t và có tranh chấp về laĩ suất do đó cần áp du ̣ng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi cho khoản vay nói trên. Yêu cầu tinh lai cũ ̉a nguyên đơn là 0,8 %/ 1 tháng thấy phù hợp

́ với giớ i ha ̣n lai quy đi ̣̃

nh ta ̣i Điều 468 nên được chấp nhâ ̣n vì vậy buộc vợ chông anh Trần Văn A, chị Trần Thị Nh phải trả số tiền lãi tính từ tháng 07/2017 cho đến hết tháng 08/2020 cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Ph, bà Phạm Thị M số tiền lãi là 38 tháng x 4.752.000đ (0,8%/ 01 tháng) = 180.576.000 đồng.

Đối với số tiền 5.000.000đồng chị Nh trả cho bà M vào tháng 12/2019 (AL), khi trả hai bên không có viết giấy giao nhận gì, phía chị Nh trình bày số tiền đó trả vào tiền gốc vay, phía bà M ông Ph có quan điểm đó là tiền lãi. Hội đồng xét xử thấy vợ chồng chị Nh anh A từ tháng 7/2017 chưa trả lãi vay cho vợ chồng ông Ph bà M, nên việc vợ chồng bà M ông Ph trình bày đây là số tiền lãi thấy phù hợp do vậy 5.000.000đồng này sẽ được trừ vào số tiền lãi mà vợ chồng ông Ph bà M yêu cầu anh A chị Nh phải trả từ tháng 7/2017 cho đến hết tháng 08/2020 (180.576.000đ – 5.000.000đ = 175.576.000đ).

Bị đơn xin trả dần số tiền gốc và số tiền lãi do hoàn cảnh khó khăn nên anh chị xin không phải trả lãi. Nguyên đơn không đồng ý với ý kiến của bị đơn, do vậy ý kiến của bị đơn không được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 6; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị đơn chị Trần Thị Nh, anh Trần Văn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Văn Ph không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 6 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph: Buộc vợ chồng anh Trần Văn A và chị Trần Thi ̣ Nh phải thanh toán cho bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph số tiền gốc là 594.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi bốn triệu đồng ) và tiền lãi vay từ tháng 07/2017 cho đến hết tháng 08/2020 là 175.576.000 đồng. Tổng cộng là 769.576.000đ (Bẩy trăm sáu mươi chín triệu lăm trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng).

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn Ph có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Trần Văn A và chị Trần Thị Nh chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Anh Trần Văn A và chị Trần Thi ̣ Nh phải nộp đồng án phí dân sự sơ thẩm là 34.783.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ