- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Vũ Tùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S- THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HS-ST Ngày 28 - 3 - 2019 Nh©n danh N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam Toµ ¸n nh©n d©n thÞ x· s – THÀNH PHỐ h Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị T Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy D, bà Trần Thị H thành phố H. tòa: Bà Cấn Thùy D - Kiểm sát viên. phố H xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù sơ thẩm thô lý sè 16/2019/TLST- HS ngµy 14 th¸ng 3 n¨m 2019 ®èi víi bÞ c¸o: S, Thị xã S, Thành phố H; Chỗ ở: số YY phố C, phường S, Thị xã S, Thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 12/12; d©n téc: kinh; Con «ng TrÇn Vò T(®· chÕt) vµ bà Lª ThÞ C (®· chÕt); vî, con: ch a có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2018, hiÖn ®ang bÞ t¹m giam t¹i C«ng an thÞ x· S¬n T©y (có mặt). |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 22/11/2018 Trần Vũ T mua 01 gói ma túy đá giá 2.500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba khu H thuộc huyện T, thành phố H để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, T còn xin người đàn ông này cho 01 chiếc cân tiểu ly điện tử màu đen. Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà sử dụng một phần nhỏ, số còn lại T dùng cân điện tử chia làm 16 gói nhỏ để tiện cho các lần sử dụng tiếp theo. Sau khi chia xong T cất tất cả ma túy tại cửa sổ phòng ngủ của T. Trưa ngày 23/11/2018 Công an phường Sơn Lộc phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã S tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà ở của T ở số 5/8 phố C, phường S, Thị xã S phát hiện và bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 17 gói tinh thể màu trắng, bọc ngoài bằng nilon màu trắng; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen có dính dị vật màu trắng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 bộ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa và 02 ống nhựa màu đen gắn ở nắp màu đỏ.
Ngày 23/11/2018, cơ quan CSĐT- CATX S đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 08 trưng cầu phòng Kĩ thuật hình sự ( PC 09) Công an thành phố H giám định đối với 17 gói chứa tinh thể màu trắng và 01 cân tiểu ly điện tử nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 8927A/KLGĐ-PC09 ngày 17/12/2018 của phòng Kĩ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 17 gói nilon ( ký hiệu M1) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 15,839 gam; 01 cân điện tử màu đen (ký hiệu M2) có dính ma túy loại Methamphetamine. Do lượng mẫu ít nên không xác định được khối lượng”.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát thị xã S đã truy tố Trần Vũ T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Trần Vũ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về điều luật: áp dụng điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Đề nghị xử phạt: Trần Vũ T từ 5,5 năm đến 06 năm tù. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1điều 46, khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 2 điều106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong dán kín của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H bên trong chứa ma túy; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 bộ sử dụng ma túy đá; trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, vỏ màu đen, đã qua sử dụng. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an TX S, Điều tra viên, VKSND TX S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo được đưa ra các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định của pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về hành vi của bị cáo được thể hiện: Trần Vũ T là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 13h30 phót ngµy 23/11/2018 TrÇn Vò T ®· cã hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp 15,839 gam Methamphetanime t¹i sè nhµ 5/8 phố C, phường S, Thị xã S, Thành phố H th× bị Cơ quan Công an ph¸t hiÖn vµ b¾t qu¶ tang. Nguồn gốc số ma túy do bị cáo mua của một nam giới lạ tại khu vực ngã ba H thuộc huyện T, H vào ngày 22/11/2018 với giá 2.500.000 đồng. Lời khai của bÞ c¸o tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bÞ c¸o tại cơ quan điều tra, lời khai của các nhân chứng, tang vật chứng đã được thu giữ tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và kết luận giám định “Chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc là ma tuý loại Methamphetanime, khối lượng 15,839 gam. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, tội phạm đã hoàn thành. Căn cứ theo Nghị định số 73/2018 ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất ma túy, Héi ®ång xÐt xö cã ®ñ c¨n cø kÕt luËn: Trần Vũ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g kho¶n 2 §iÒu 249 Bé luËt h×nh sù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe con người và gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần ph¶i cã mét møc h×nh ph¹t thật nghiêm khắc bắt cách ly khỏi đời sống một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, xét bÞ c¸o khai b¸o thµnh khÈn, ¨n n¨n hèi cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 điều 51 Bé luËt h×nh sù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T ở khu vực ngã ba H, huyện T, thành phố H ngày 22/11/2018. Do T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.
VÒ xö lý vËt chøng: 02 phong bì niêm phong dán kín của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H bên trong chứa ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành, 01 bộ sử dụng ma túy đá và 01 cân tiểu ly điện tử không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
3. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
4. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.
5. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX thấy không có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm.
Vì các lẽ trên.
QuyÕt ®Þnh
1. Về tội danh: Tuyªn bè bÞ c¸o Trần Vũ T ph¹m téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm g kho¶n 2 ®iÒu 249; ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 ®iÒu 51 Bé luËt h×nh sù:
Xử phạt: Trần Vũ T 05 năm 06 tháng (năm năm sáu tháng) tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy bắt tạm giữ tạm giam 23/11/2018.
3. VÒ xử lý vật chứng: Áp dụng kho¶n 1 ®iÒu 46, khoản 1 điều 47 cña Bé luËt h×nh sù; kho¶n 2 ®iÒu 106 cña Bé luËt tè tông h×nh sù:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – CA TP H có chữ ký niêm phong của Trần Vũ T, cán bộ công an Hoàng Việt H và giám định viên Trần Ngọc C; 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng KTHS – CA TP H có chữ ký niêm phong của Trần Vũ T, cán bộ công an Hoàng Việt H và giám định viên Trần Ngọc C và hình dấu của cơ quan CSĐT- CATX S; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa và 02 ống nhựa màu đen gắn ở nắp màu đỏ.
Trả lại bị cáo Trần Vũ T: 01 điện thoại iphone màu đen, số imeil: 013433004249130.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã S đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2019).
4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 1, 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a kho¶n 1 ®iÒu 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
BÞ c¸o Trần Vũ T ph¶i chÞu 200.000®ång ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
5. Về quyền kháng cáo: C¨n cø §iÒu 331, 333 cña Bé luËt tè tông h×nh sù:
BÞ c¸o đ îc quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. *N¬i göi:
T.M Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm -Tòa án TP H;
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ -VKS TX S;
- Công an TX S;
- Chi cục THADS TX S;
- Bị cáo;
- Dán án;
- Lưu hồ sơ.
Bùi Thị T