vanban.org

Bản án 15/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lưu Xuân V phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Xuân V 02(Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/9/2018 đến 27/9/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 15/2019/HSST Tuyên án 26/02/2019
Phúc thẩm Bản án 135/2019/HS-PT Tuyên án 28/08/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lưu Xuân V phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊNTHÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2019/HSST
Ngày 26 - 02- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Tố – Bà Phạm Thị Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Hưng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Chức vụ kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2019/HSST, ngày 09 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐ XXST-HS ngày 14/02/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Xuân V; Tên gọi khác: không.Giới tính: nam; Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1970 tại xã Phú Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: làm ruộng;Con ông: Lưu Xuân Nghệ(chết) và bà Nguyễn Thị Thỉu(chết);Anh chị em ruột: có 06 người, bị can là con thứ 06 trong gia đình;Vợ: Võ Thị H (đã ly hôn), sinh năm 1971;Con: có 05 người, lớn nhất 29 tuổi, nhỏ nhất 20 tuổi.Tiền án, tiền sự: không; Bị can bị tạm giữ từ ngày 18/9/2018 đến 27/9/2018, Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã Phú Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Lưu Xuân T, sinh ngày 15/9/1999

Trú tại: xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

-Người làm chứng: +/Bà Võ Thị H, sinh năm 1971 ( Có mặt)

Trú tại: xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/ Ông Lưu Xuân T, sinh năm 1965 ( Có mặt)

Trú tại: xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/ Bà Trần Thị T, sinh năm 1969 ( Có mặt)

Trú tại: xóm 6, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/Ông Lưu Xuân T, sinh năm 1977 ( Có mặt)

Trú tại: xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/ Cháu Võ Khắc D, sinh ngày 24/11/ 2006 ( Vắng mặt)

Trú tại: xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

- Người giám hộ cho cháu Võ Khắc D:

Bà Võ Thị H( mẹ đẻ cháu D).(Vắng mặt)

Trú tại: xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18 tháng 9 năm 2018, Sau khi uống rượu tại nhà ông Võ Công T ở xóm N, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì Lưu Xuân V đi bộ về nhà. Sau khi ăn cơm trưa xong thì khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì Lưu Xuân V đi ra đóng cửa cổng thì thấy cháu Võ Khắc D sinh năm 2006, trú tại xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An đang hái rau muống tại mương nước ở sát vườn của Lưu Xuân V. Thấy vậy, Lưu Xuân V nói với Võ Khắc D là “Rau đó là rau của nhà tao, mày không được hái rau ở đây”. Do đó, Võ Khắc D không hái nữa mà chạy vào nhà bà Võ Thị H sinh năm 1971, trú tại xóm Đ, xã P, huyện Y, là dì của Võ Khắc D đồng thời là vợ cũ của Lưu Xuân V nhưng đã ly hôn, ở sát nhà của Lưu Xuân V. Sau khi nghe cháu D kể lại việc Lưu Xuân V không cho D hái rau thì bà Võ Thị H đi ra ngoài sân. Tại đây, bà H và Lưu Xuân V cãi nhau, khi nghe tiếng cãi nhau thì Lưu Xuân T, sinh năm 1999, trú tại xóm Đ, xã P, huyện Y, là con trai út của bà H và ông Lưu Xuân V, đang làm việc ở sân ốt gò hàn gần đó chạy lại chỗ bà H đang đứng. Trên tay Lưu Xuân T lúc này đang cầm một cây búa đóng đinh bằng kim loại và cãi nhau với ông V. Sau đó anh Lưu Xuân T cầm búa chạy sang cổng nhà Lưu Xuân V, thấy vậy bà Võ Thị H chạy theo sau Lưu Xuân T. Lúc này, bà Trần Thị T là người giúp việc cho Lưu Xuân V ở trong nhà V chạy đến nhà ông Lưu Xuân T là anh trai của Lưu Xuân V gọi ông T đến để can thiệp nhưng ông T không ở nhà. Khi Lưu Xuân T sang gần đến cổng nhà Lưu Xuân V thì bà Võ Thị H đã lấy chiếc búa trên tay của Trường. Đi đến cổng nhà Lưu Xuân V, anh T nói “ông đánh mẹ tôi nhiều lần rồi, ngày xưa chưa ly hôn thì tôi nhịn, chứ giờ ông đánh mẹ tôi thì tôi đánh lại”. Khi nghe Lưu Xuân T nói vậy thì Lưu Xuân V vẫn ở trong nhà. Lúc này, ông Lưu Xuân T nghe ồn ào ở cổng nhà em trai nên đi bộ sang cổng nhà Lưu Xuân V. Khi sang đến nơi, thì ông Lưu Xuân T thấy bà Võ Thị H và Lưu Xuân T đang đứng ở cổng nhà Lưu Xuân V. Trên tay bà Võ Thị H đang cầm một chiếc búa. Thấy vậy ông Lưu Xuân T nói “bọn mày định làm gì đó” và định lấy chiếc búa trên tay bà Võ Thị H thì bị Lưu Xuân T đẩy ra. Sau đó thì ông Lưu Xuân T và Lưu Xuân T giằng co với nhau. Lúc này Lưu Xuân V từ trong nhà đi ra trên tay cầm một con dao tông bằng kim loại màu đen, cán dao và lưỡi dao gắn liền nhau, dài 45 cm đi ra.Thấy Lưu Xuân T và ông Túy đang giằng co nhau thì Lưu Xuân V cầm dao chém một nhát từ phải qua trái, trúng vào đầu gối chân trái của Lưu Xuân T. Sau khi bị chém vào chân, Lưu Xuân T quay lại để chạy thì Lưu Xuân V dùng dao chém thêm một nhát từ trên xuống trúng vào lưng và một nhát trúng vào đầu, làm Lưu Xuân T ngã xuống đường. Vết thương ở chân trái bị đứt da và gân bánh chè, kích thước 12 x 0,1 cm; vết thương ở lưng rách da kích thước 3,5 x 0,1 cm; vết thương ở đỉnh đầu bên phải kích thước 7,5 x 0,1 cm. Sau khi chém T xong,được mọi người can ngăn thì Lưu Xuân V đi vào nhà và vứt dao ở trong sân.

Sau khi bị chém anh Lưu Xuân T được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện 115 tỉnh Nghệ An đợt đầu phẫu thuật nối gân và khâu vết thương từ ngày 18/9/2018 đến ngày 27/9/2018 thì ra viện. Từ ngày 28/9/2018 đến ngày 25/11/2018 tiếp tục điều trị ngoại trú và phục hồi chức năng tại bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh Đồng Nai. Từ ngày 26/11/2018 đến ngày 29/11/2018 tiếp tục điều trị tháo chỉ tại bệnh viện 115 tỉnh Nghệ An. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 283/TTPY ngày 20/9/2018 của trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận: tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Lưu Xuân T là 13%.

Quá trình điều tra, truy tố anh Lưu Trương có đơn yêu cầu bị can Lưu Xuân V phải có trách nhiệm bồi thường cho anh tổng số tiền chi phí thiệt hại 84.830.000 đồng. Do yêu cầu bồi thường thiệt hại không rỏ ràng, sau khi vụ án chuyển Tòa án xét xử thì anh Lưu Xuân T đã có bản thống kê yêu Lưu Xuân V bồi thường cho anh các khoản thiệt hại cụ thể sau đây:

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ nhất:

- Tiền thuê xe đi cấp cứu từ nhà đến bệnh viện 115 Nghệ An ngày

18/9/2018 số tiền 500.000 đồng

- Tiền điều trị tại bệnh viện 115 từ ngày 18/9/2018 đến ngày 27/9/2018 =

7.601.000 đồng (Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 27/9/2018 )

- Tiến mua sữa bồi dưỡng trước khi mổ và các đồ dùng sử dụng cá nhân

trong quá trình điều trị tại bệnh viện 115 = 800.000 đồng.

- Tiền mua thuốc theo đơn sau khi ra viện 870.000 đồng( Hóa đơn ngày

04/10/2018).

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 từ ngày

18/9/2018 đến ngày 27/9/2018 = 10 ngày x 250.000 đồng/ngày =

2.500.000 đồng

- Tiền công người nuôi 18/9/2018 đến ngày 27/9/2018 = 10 ngày x

250.000 đồng/ngày = 2.500.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng trong quá trình điều trị 10 ngày x 100.000 đ = 1.000.000

đồng

- Tiền thuê tắc xi sau khi ra viện 500.000 đồng

- Tiền thuê xe tắc xi đi tái khám đi và về 1.000.000 đồng

Tổng: 17.271.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện y dược cổ truyền Đồng Nai từ ngày 07/11/2018

đến ngày 20/11/2018 = 15 ngày

- Tiền đi xe giường nằm của bệnh nhân và người nuôi đi từ nhà đến bệnh

viện Đồng Nai 1.200.000 đồng

- Tiền viện phí 1.792.000 đồng(Hóa đơn ngày 21/11/2018)

- Tiền mua đồ dùng nằm viện 500.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng 1.500.000 đồng

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện y dược cổ truyền

Đồng Nai từ ngày 07/11/2018 đến ngày 20/11/2018 = 15 ngày x 250.000

đồng/ngày = 3.750.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại bệnh viện y dược cổ truyền Đồng Nai

từ ngày 07/11/2018 đến ngày 20/11/2018 = 15 ngày x 250.000 đồng/

ngày = 3.750.000 đ

- Tiền đi xe giường năm của bệnh nhân, người nuôi sau khi ra viện

1.200.000 đồng

Tổng: 13.692.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ 2 từ ngày 26/11/2018 đến

ngày 29/11/2018 = 4 ngày

- Tiền tắc xi đi vào viện 500.000 đồng

- Tiền viện phí 1.471.000 đồng(Hóa đơn ngày 29/11/2018)

- Tiền mua đồ dùng nằm viện 800.000 đồng

- Tiền tắc xi sau khi ra viện 500.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng 400.000 đồng

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An lần

2 từ ngày 26/11/2018 đến ngày 29/11/2018 = 4 ngày x 250.000

đồng/ngày = 1.000.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện 115 Nghệ An lần 2 từ

ngày 26/11/2018 đến ngày 29/11/2018 = 4 ngày x 250.000 đồng/ngày =

1.000.000 đồng

- Tiền mua thuốc sau khi ra viện 1.170.000 đồng(Hóa đơn ngày

29/11/2018)

- Tiền tái khám lấy thuốc theo đơn ngày 19/12/2018 = 680.000 đồng

- Tiền thuê xe tắc xi đi và về tái khám ngày 19/12/2018 = 1.000.000 đồng

Tổng: 8.521.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ 3 từ ngày 26/12/2018 đến

ngày 08/01/2019 = 14 ngày

- Tiền tắc xi đi vào viện 500.000 đồng

- Tiền chi điều trị 1.959.000 đồng(Hóa đơn ngày 08/1/2019)

- Mua vật liệu điều trị Băng thun, đai bó gối 160.000 đồng(Hóa đơn ngày

26/12/2018)

- Mua đố dùng phục vụ nằm viện 200.000 đồng

- Sao bệnh án 90.000 đồng(Hóa đơn ngày 08/1/2019)

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An từ

ngày 26/12/2018 đến ngày 8/01/2019 = 14 ngày x 250.000 đồng/ngày =

3.500.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện 115 Nghệ An từ ngày

26/12/2018 đến ngày 08/1/2019 = 14 ngày x 250.000 đồng/ngày =

3.500.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng 14 ngày = 1.400.000 đồng

- Tiền tắc xi sau khi ra viện viện 500.000 đồng

Tổng: 11.809.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ 4 từ ngày 14/1/2019 đến

ngày 25/01/2019 = 12 ngày

- Tiền tắc xi vào viện 500.000 đồng

- Tiền đồ dùng vào viện 200.000 đồng

- Tiền chi phí điều trị 1.700.000 đồng(02 hóa đơn ngày 25/1/2019)

- Sao bệnh án 90.000 đồng(Hóa đơn ngày 15/1/2019)

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An từ

ngày 14/01/2019 đến ngày 25/01/2019 = 12 ngày x 250.000 đồng/ngày =

3.000.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện 115 Nghệ An từ ngày

14/1/2019 đến ngày 25/1/2019 = 12 ngày x 250.000 đồng/ngày =

3.000.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng 12 ngày = 1.200.000 đồng

- Tiền tắc xi đi về sau khi ra viện 500.000 đồng

Tổng: 10.190.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện Việt Đức từ ngày 28/1/2019 đến ngày

31/01/2019 = 4 ngày.

- Tiền xe đi vào bệnh viện Việt Đức của bệnh nhân và người nuôi =

1.000.000 đồng.

- Tiền khám kiểm tra sức khỏe 3.150.000 đồng(Hóa đơn ngày

28/01/2019)

- Tiền mua nẹp gối 225.000 đồng(Hóa đơn ngày 28/1/2019)

- Tiền mua đồ dùng để vào viện 200.000 đồng

- Tiền viện phí 5.139.000 đồng(Hóa đơn ngày 31/1/2019)

- Tiền bồi dưỡng 4 ngày = 400.000 đồng

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Việt Đức từ ngày

28/01/2019 đến ngày 31/01/2019 = 4 ngày x 250.000 đồng/ngày =

1.000.000 đồng.

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện Việt Đức từ ngày

28/1/2019 đến ngày 31/1/2019 = 4 ngày x 250.000 đồng/ngày =

1.000.000 đồng.

- Tiền thuê xe cấp cứu chuyển tuyến từ bệnh viện Việt Đức về bệnh viện

Đa khoa Nghệ An = 4.000.000 đồng.

Tổng: 16.114.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện đa khoa Nghệ An từ ngày 31/1/2019 đến ngày

04/02/2019 = 4 ngày.

- Tiền mua đồ dùng 200.000 đồng

- Tiền viện phí 528.000 đồng(Hóa đơn ngày 04/2/2019)

- Tiền Đơn thuốc sau khi ra viện 3.564.000 đồng(Hóa đơn ngày 3/2/2019)

- Tiền bồi dưỡng 4 ngày = 400.000 đồng

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Đa khoa Nghệ

An từ ngày 31/01/2019 đến ngày 04/02/2019 = 4 ngày x 250.000

đồng/ngày = 1.000.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện ngày 31/01/2019 đến

ngày 04/02/2019 = 4 ngày x 250.000 đồng/ngày = 1.000.000 đồng

- Tiền xe tắc xi sau khi ra viện 500.000 đồng

Tiền mất thu nhập của bệnh nhân 1 năm không lao động được, 1 tháng

7.500.000 đồng x 12 tháng = 90.000.000 đồng

- Tiền tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng

Tổng cộng: 112.192.000đ(Một trăm mười hai triệu, một trăm chín

mươi hai nghìn đồng)

Tổng thiệt hại: 189.789.000đ(Một trăm tám mươi chín triệu, bảy

trăm tám mươi chín nghìn đồng)

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao và 01 chiếc búa để phục vụ cho việc giải quyết và xử lý vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-YT, ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố Lưu Xuân V về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lưu Xuân V và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lưu Xuân V từ 24 tháng 30 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại đang lưu giữ tại kho vật chứng Cơ quan điều tra công an huyện Yên Thành.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lưu Xuân V phải bồi thương cho anh Lưu Xuân T số tiền từ 100.000 đồng đến 110.000.000 đồng

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ buộc tội: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Lưu Xuân V đã thực hiện hành vi dùng một con dao tông bằng sắt chém 03(ba) nhát vào chân, lưng và đầu của anh Lưu Xuân T trú ở xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An là con trai của Lưu Xuân V. Kết quả được tổn hại sức khỏe do Lưu Xuân V gây ra cho anh Lưu Xuân T được xác định tại kết luận giám định số: 283/TTPY ngày 20/9/2018 của trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận 13%.

Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo Lưu Xuân V, lời khai của bị hại, các nhân chứng, những vết thương do Lưu Xuân V gây ra để lại trên thân thể của anh Lưu Xuân T, kết luận giám định, vật chứng của vụ án và các chứng cứ khác đã thu thập được, cơ quan điều tra đã xác định hành vi của Lưu Xuân V phạm tội Cố ý gây thương tích. Nên Cơ quan điều tra, điều tra viên đã tiến hành các hoạt động tố tụng theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai bị hại, nhân chứng và thu thập các chứng cứ liên quan để làm cơ sở để xử lý đối với Lưu Xuân V. Trên cơ sở điều tra và các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố Lưu Xuân V về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng, người đúng tội.

Đây và một vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi mà Lưu Xuân V dùng rựa chém vào thân thể anh Lưu Xuân T gây thương tích bị tổn hại sức khỏe 13% là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật, gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Bị cáo có trình độ văn hóa, có năng lực pháp luật, năng lực hành vi đầy đủ, nên bị cáo nhận thức được rằng sức khỏe con người được pháp luật và nhà nước bảo vệ, nếu xâm phạm tới sẽ bị trừng trị xử lý nghiêm minh. Tuy biết vậy, nhưng vì coi thường pháp luật, nên bị cáo đã gây thương tích cho anh Lưu Xuân T con trai út của bị cáo để hôm nay phải đứng trước phiên tòa chờ sự phán quyết của pháp luật. Hành vi của bị cáo thực hiện cần xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

-Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Nhân thân của bị cáo: Năm 2010 bị cáo Lưu Xuân V đã bị xử lý hành chính về hành vi gây thương tích.

Sau khi xem xét hành vi do bị cáo thực hiện, tính chất nghiêm trọng của vụ án và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy rằng việc xử phạt tù giam cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để nhà nước giáo dục đối với bị cáo là cần thiết. Lẽ ra xử phạt bị cáo với mức án 30 tháng tù. Tuy nhiên xét thấy rằng bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, nên cần xem xét xét giảm nhẹ cho bị cáo một phàn hình phạt chỉ xử phạt bị cáo với mức án 2 năm tù cũng đủ nghiêm.

Về trách nhiệm dân sự: Tỷ lệ thương tích do Lưu Xuân V gây ra cho anh Lưu Xuân T tuy chỉ là 13%. Nhưng do vết thương của anh T ảnh hưởng đến chức năng vận động, người bị hại phải đi nhiều tuyến bệnh viện để điều trị, xử lý vết thương, bản thân người bị hại không thể tự đi lại được một mình cần sự hổ trợ của người khác, nên phát sinh thiệt hại là tương đối nhiều. Do bị cáo có lỗi nên những chi phí, thiệt hại hợp lý có căn cứ cần buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại. Người bị hại yêu cầu bị cáo Lưu Xuân V bồi thường tổng số tiền 189.789.000đ(Một trăm tám mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng). Yêu cầu của người bị hại cơ bản là có căn cứ, hợp lý. Tuy nhiên trong đó có một số yêu cầu người bị hại yêu cầu quá nhiều, quá cao, quá dài và không có căn cứ như: Người bị hại yêu cầu tiền không lao động của bệnh nhân, người nuôi điều trị tại các tuyến bệnh viện với số tiền 250.000 đồng ngày là quá cao. Để được hưởng số tiền này thì yêu cầu người bị hại, người nuôi phải bỏ sức cần thiết mới được hưởng số tiền này. Do vậy yêu cầu tiền công bệnh nhân, người nuôi chỉ tính buộc bị cáo phải bồi thường tiền giảm thu nhập đối với người bị hại là 200.000 đồng/ngày và tiền công người nuôi là 200.000 đồng/ngày. Quá trình người bị hại vào điều trị tại Bệnh viện 115 Nghệ An 4 lần. Người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tắc xi đi và về sau khi ra viện, tiền tắc xi đi tái khám tổng 12 lần. Yêu cầu này là quá nhiều không có căn cứ để chứng minh, không có cở sở chấp nhận tất cả, chỉ chấp nhận tiền tắc xi đi vào viện, ra viện thực tến 8 lần, mỗi lần 500.000 đồng x 9 lần = 4.500.000 đồng; Tiền bồi dưỡng bệnh nhân quá nhiều, với vết thương ở đầu gối cần thiết phải bồi dưỡng nhiều lần như bị hại yêu cầu, chỉ chấp nhận buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tiền bồi dưỡng điều trị tại tuyến bệnh viện có thời gian điều trị từ 10 ngày trở lên, mỗi đợt với số tiền là 500.000 đồng, dưới 10 ngày không chấp nhận. Người bị hại bị vết thương tại đầu gối cần có thời gian nghỉ, áp dụng vật lý trị trị liệu để hồi phục vết thương, thời gian này người bị hại không thể lao động để có thu nhập. Tuy nhiên để có số tiền như người bị hại yêu cầu thì người bị hại phải bỏ sức lao động cơ bản mới có số tiền đó. Quá trình bị hại nghỉ ngơi là thời gian người hại hại không phải bỏ sức lao động, nên chỉ cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tiền giảm thu nhập là 180.000 đồng/ngày với thời gian là 6 tháng, mỗi tháng 5.400.000 đồng x 6 tháng = 32.400.000 đồng là phù hợp. Người bị hại bị bị cáo gây thương tích, anh hưởng đến tinh thần, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần là đúng, nhưng bị hại yêu cầu 15.000.000 đồng là quá cao, với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 13% chỉ có cơ sở chấp nhận 10.000.000 đồng. Tiền thuê xe cấp cứu chuyển tuyến từ bệnh viện Việt Đức về bệnh viện Đa khoa Nghệ An người bị hại yêu cầu 4.000.000 đồng không có căn cứ để chấp nhận, việc thuê xe vận chuyển cấp cứu là không cần thiết, chỉ chấp nhận tiền đi xe dường nằm cả đi và về của bệnh nhân, người nuôi đi và về là 1.200.000 đồng. Các yêu cầu khác của người bị hại là hợp lý, có căn cứ, hợp lý nên cần chấp nhận buộc bị cáo bồi thường cho bị hại.

Từ sự phân tích trên buộc bị cáo Lưu Xuân V phải có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại các khoản cụ thể sau đây:

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ nhất:

- Tiền thuê xe đi cấp cứu từ nhà đến bệnh viện 115 Nghệ An ngày 18/9/2018 số tiền 500.000 đồng.

- Tiền điều trị tại bệnh viện 115 từ ngày 18/9/2018 đến ngày 27/9/2018 = 7.601.000 đồng(Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 27/9/2018 )

- Tiền mua sữa bồi dưỡng trước khi mổ và các đồ dùng sử dụng cá nhân trong quá trình điều trị tại bệnh viện 115 = 500.000 đồng.

- Tiền mua thuốc theo đơn sau khi ra viện 870.000 đồng(Hóa đơn ngày 04/10/2018).

- Tiền giảm thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 từ ngày 18/9/2018 đến ngày 27/9/2018 = 10 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.000.000 đồng.

- Tiền công người nuôi 18/9/2018 đến ngày 27/9/2018 = 10 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.000.000 đồng

- Tiền thuê tắc xi sau khi ra viện 500.000 đồng

Tổng: 13.971.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện y dược cổ truyền Đồng Nai từ ngày 07/11/2018 đến ngày 20/11/2018 = 15 ngày

- Tiền đi xe giường nằm của bệnh nhân và người nuôi đi từ nhà đến bệnh viện Đồng Nai 1.200.000 đồng

- Tiền viện phí 1.792.000 đồng(Hóa đơn ngày 21/11/2018)

- Tiền mua đồ dùng nằm viện 500.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng 500.000 đồng

- Tiền giảm thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện y dược cổ truyền Đồng Nai từ ngày 07/11/2018 đến ngày 20/11/2018 = 15 ngày x 200.000 đồng/ngày = 3.000.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại bệnh viện y dược cổ truyền Đồng Nai từ ngày 07/11/2018 đến ngày 20/11/2018 = 15 ngày x 200.000 đồng/ngày = 3.000.000 đồng.

- Tiền đi xe giường nằm của bệnh nhân, người nuôi sau khi ra viện 1.200.000 đồng

Tổng: 11.192.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ 2 từ ngày 26/11/2018 đến ngày 29/11/2018 = 4 ngày

- Tiền tắc xi đi vào viện 500.000 đồng

- Tiền viện phí 1.471.000 đồng(Hóa đơn ngày 29/11/2018)

- Tiền mua đồ dùng nằm viện 800.000 đồng

- Tiền tắc xi sau khi ra viện 500.000 đồng

- Tiền giảm thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An lần 2 từ ngày 26/11/2018 đến ngày 29/11/2018 = 4 ngày x 200.000 đồng/ngày = 800.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện 115 Nghệ An lần 2 từ ngày 26/11/2018 đến ngày 29/11/2018 = 4 ngày x 200.000 đồng/ngày = 800.000 đồng

- Tiền mua thuốc sau khi ra viện 1.170.000 đồng(Hóa đơn ngày 29/11/2018)

- Tiền tái khám lấy thuốc theo đơn ngày 19/12/2018 = 680.000 đồng

Tổng: 6.721.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ 3 từ ngày 26/12/2018 đến ngày 08/01/2019 = 14 ngày

- Tiền tắc xi đi vào viện 500.000 đồng

- Tiền chi điều trị 1.959.000 đồng(Hóa đơn ngày 08/1/2019)

- Mua vật liệu điều trị Băng thun, đai bó gối 160.000 đồng(Hóa đơn ngày 26/12/2018)

- Mua đồ dùng phục vụ nằm viện 200.000 đồng

- Sao bệnh án 90.000 đồng(Hóa đơn ngày 08/1/2019)

- Tiền giảm thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An từ ngày 26/12/2018 đến ngày 8/01/2019 = 14 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.800.000 đồng.

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện 115 Nghệ An từ ngày 26/12/2018 đến ngày 08/1/2019 = 14 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.800.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng 500.000 đồng

- Tiền tắc xi sau khi ra viện viện 500.000 đồng

Tổng: 9.509.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện 115 Nghệ An lần thứ 4 từ ngày 14/1/2019 đến ngày 25/01/2019 = 12 ngày

- Tiền tắc xi vào viện 500.000 đồng

- Tiền đồ dùng vào viện 200.000 đồng

- Tiền chi phí điều trị 1.700.000 đồng(02 hóa đơn ngày 25/1/2019)

- Sao bệnh án 90.000 đồng(Hóa đơn ngày 15/1/2019)

- Tiền giảm thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An từ ngày 14/01/2019 đến ngày 25/01/2019 = 12 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện 115 Nghệ An từ ngày 14/1/2019 đến ngày 25/1/2019 = 12 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng

- Tiền bồi dưỡng 500.000 đồng

- Tiền tắc xi đi về sau khi ra viện 500.000 đồng

Tổng: 8.290.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện Việt Đức từ ngày 28/1/2019 đến ngày 31/01/2019 = 4 ngày.

- Tiền xe đi vào bệnh viện Việt Đức của bệnh nhân và người nuôi 600.000 đồng.

- Tiền khám kiểm tra sức khỏe 3.150.000 đồng(Hóa đơn ngày 28/01/2019)

- Tiền mua nẹp gối 225.000 đồng(Hóa đơn ngày 28/1/2019)

- Tiền mua đồ dùng để vào viện 200.000 đồng

- Tiền viện phí 5.139.000 đồng(Hóa đơn ngày 31/1/2019)

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Việt Đức từ ngày 28/01/2019 đến ngày 31/01/2019 = 4 ngày x 200.000 đồng/ngày = 800.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện Việt Đức từ ngày 28/1/2019 đến ngày 31/1/2019 = 4 ngày x 200.000 đồng/ngày = 800.000 đồng

- Tiền xe đi từ bệnh viện Việt Đức về bệnh viện Đa khoa Nghệ An = 600.000 đồng.

Tổng:11.514.000 đồng

*Chi phí tại Bệnh viện đa khoa Nghệ An từ ngày 31/1/2019 đến ngày 04/02/2019 = 4 ngày.

- Tiền mua đồ dùng 200.000 đồng

- Tiền viện phí 528.000 đồng(Hóa đơn ngày 04/2/2019)

- Tiền Đơn thuốc sau khi ra viện 3.564.000 đồng(Hóa đơn ngày 3/2/2019)

- Tiền giảm thu nhập của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Đa khoa Nghệ An từ ngày 31/01/2019 đến ngày 04/02/2019 = 4 ngày x 200.000 đồng/ngày = 800.000 đồng

- Tiền công người nuôi điều trị tại tại bệnh viện ngày 31/01/2019 đến ngày 04/02/2019 = 4 ngày x 200.000 đồng/ngày = 800.000 đồng

- Tiền xe tắc xi sau khi ra viện 500.000 đồng

- Tiền mất thu nhập của bệnh nhân 6 tháng x 5.400.00 đồng = 32.400.000 đồng

- Tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng

Tổng cộng: 48.792.000 đồng

Tổng toàn bộ thiệt hại buộc bị cáp phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại: 109.989.000 đồng

Vật chứng :Vật chứng của vụ án là 01 chiếc dao, cán và lưỡi dao làm bằng kim loại dài 45cm và 01 chiếc búa đóng đinh là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Lưu Xuân V phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo: Lưu Xuân V phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Xuân V 02(Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/9/2018 đến 27/9/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc dao tông cán, lưỡi bằng sắt dại 45 Cm và 01 chiếc búa đóng định do Công an huyện Yên Thành đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2019 và phiếu nhập kho NK:023 ngày 08/01/2019.

3.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự.

Buộc: Bị cáo Lưu Xuân V phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Lưu Xuân T số tiền 109.989.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước qui định tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

4. Án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Lưu Xuân V phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.499.450 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ