- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Trung phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN Bản án số:15/2019/HSST Ngày: 13/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Mạnh Quang Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Toan 2. Ông Lương Đình Hiển
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên toà: Bà Đào Ngọc Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2019, tại Nhà văn hóa thôn BH, xã TS, huyện TL mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Đặng Văn Tr, sinh năm 1992 tại xã ĐL, huyện AT, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn ĐL, xã ĐL, huyện AT, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Đặng Đình L và bà Trần Thị Th; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/12/2018 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên“có mặt tại phiên tòa”. Người làm chứng:
- Bà Vũ Thị Th, sinh năm 1969 “vắng mặt”. Địa chỉ: Đường Nội thị I, thị trấn V,huyện TL, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Bồ Xuân T, sinh năm 1995 “vắng mặt”. Địa chỉ: Tiểu khu 5, thị trấn V, huyện TL, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Nguyễn Minh Tr, sinh năm 1996“vắng mặt”. Địa chỉ: Thôn NT, xã MH, huyện PC, tỉnh Hưng Yên
- Anh Đỗ Minh L, sinh năm 1985“vắng mặt”. Địa chỉ: Thôn PB, xã PSN, huyện PC, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 phút ngày 22/12/2018, tổ công tác Công an huyện Tiên Lữ phối hợp với Công an thị trấn V tuần tra tại khu vực đường Nội thị I, thị trấn V phát hiện Đặng Văn Tr đang đứng tại nhà nghỉ Q, trên tay cầm một hộp giấy màu đen có dấu hiệu nghi vấn. Lực lượng công an yêu cầu kiểm tra thì Tr sợ hãi vất chiếc hộp giấy màu đen xuống nền nhà. Kiểm tra hộp giấy phát hiện 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, Tr trình bày hộp giấy màu đen trên không phải là của Tr nên không ký vào các biên bản do lực lượng công an lập. Vật chứng thu giữ, quản lý gồm: 01 hộp giấy màu đen bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 04 ống nhựa màu trắng dạng ống hút; 20 túi nilon có kích thước 2x1,5cm; 01 thanh kim loại dạng ống dài 7cm; 01 bật lửa ga màu đỏ được niêm phong ký hiệu M1 và thu giữ trên người Tr 01 điện thoại di động Nokia 220 màu đen đã cũ.
Quá trình điều tra Đặng Văn Tr khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 22/12/2018, Tr nhờ bạn là TA, sinh năm 1992, trú tại làng Y, thuộc huyện TM, tỉnh Hải Dương trở đến nhà L gần khu vực cầu Tràng xã PSN, huyện PC, tỉnh Hưng Yên. Khi đến nơi TA về trước, còn Tr vào nhà L với mục đích mua ma túy đá sử dung. Tr ở nhà L chơi đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì L rủ Tr đi đến PG, thị trấn V, huyện TL. L gọi taxi rồi cùng Tr đến trước cửa nhà nghỉ Q của Bà Vũ Thị Th ở đường Nội thị I, thị trấn V. L đưa cho Tr 01 hộp giấy màu đen bảo vào đặt một phòng nghỉ trước, còn L đi có việc một lát sẽ quay lại để cùng sử dụng ma túy đá. Do đã nhiều lần cùng L đến nhà nghỉ để sử dụng ma túy đá nên Tr biết trong hộp giấy màu đen có chứa ma túy nhưng không biết khối lượng là bao nhiêu. Tr cầm ma túy vào trong nhà nghỉ đặt phòng, khi cầm chìa khóa chuẩn bị lên phòng thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra. Sợ bị phát hiện nên Tr vất chiếc hộp màu đen có chứa ma túy xuống nền nhà nghỉ, không thừa nhận ma túy trên là của Tr.
Ngày 23/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ tiến hành khám xét nơi ở của Đặng Văn Tr và Đỗ Minh L, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại bản thông báo kết luận sơ bộ số 81/PC09 ngày 23/12/2018 và kết luận giám định số 81/KLGĐ-PC54 ngày 02/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 27,364 gam.
Về nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ, Tr khai nhận số ma túy mang vào nhà nghỉ để sử dụng là của đối tượng tên L, khoảng ngoài 30 tuổi nhà ở gần khu vực Cầu Tràng thuộc địa phận xã PSN, huyện PC, tỉnh Hưng Yên. Theo sơ đồ tự vẽ của bị cáo và xác minh tại địa phương thì có anh Đỗ Minh L, sinh năm 1985, trú tại Thôn PB, xã PSN, huyện PC có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy. Bản thân L trình bầy không biết ai là Đặng Văn Tr, sinh năm 1992 ở Thôn ĐL, xã ĐL, huyện AT, tỉnh Hưng Yên và vào ngày 22/12/2018 L không đi đâu ra ngoài. Do vậy không có căn cứ để xác định Đỗ Minh L là người đưa hộp giấy mầu đen có chứa ma túy cho Tr ngày 22/12/2018, cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L.
Đối với chiếc điện thoại Nokia 220 màu đen, kèm theo sim số 0392.075.065 thu giữ của Tr, cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ là tài sản của Tr không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với TA là người đưa Tr đến nhà L: Tr khai nhận khi nhờ TA chở đến nhà L thì Tr không nói cho TA biết đến đó để mua ma túy. Tr mới quen nên không rõ tên tuổi, địa chỉ của TA. Do đó không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với TA.
Đối với Bà Vũ Thị Th là chủ nhà nghỉ: Quá trình điều tra đã xác định bà Th không biết Tr sử dụng phòng nghỉ để làm nơi sử dụng ma túy do đó không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Th.
Quá trình điều tra, ban đầu Đặng Văn Tr không thừa nhận hộp giấy màu đen có chứa ma túy là của mình, nhưng sau đó đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKSHTL ngày 06/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ truy tố bị cáo Đặng Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiên tòa; lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận khoảng 16 giờ ngày 22/12/2018, tại nhà nghỉ Q thuộc đường Nội thị I, thị trấn V, huyện Tiên Lữ, Đặng Văn Tr có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nilon bên trong chứa Methamphetamine có tổng khối lượng 27,364 gam với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Tiên Lữbắt quả tang thu giữ vật chứng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ. Do vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo .
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 81/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; 04 ống nhựa màu trắng dạng ống hút; 20 túi nilon có kích thước 2x1,5cm; 01 thanh kim loại dạng ống dài 7cm; 01 bật lửa ga màu đỏ. Trả lại bị cáo chiếc điện thoại Nokia 220 màu đen, kèm theo sim số 0392.075.065.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Bị cáo Đặng Văn Tr tự bào chữa: Nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Lữ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như: Biên bản vụ việc lập hồi 16 giờ 15 phát ngày 22/12/2018; biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng và kết luận giám định số 81/PC09 ngày 02/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên; lời khai của người làm chứng Bồ Xuân T, Nguyễn Minh Tr, Vũ Thị Th. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 22/12/2018, tại nhà nghỉ Q thuộc khu vực đường Nội thị 1, thị trấn V, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, Đặng Văn Tr đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nilon bên trong chứa 27,364 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa vi phạm pháp luật lần nào.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo với thái độ ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích và nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, có ý thức tuân thủ, tôn trọng pháp luật, đáp ứng nhu cầu phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tại phiên tòa là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tài phiên toà cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, tàng trữ trái phép chất ma túy để phục vụ nhu cầu bản thân nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 81/PC09 mẫu vật hoàn lại của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên bên trong chứa ma túy là vật bị Nhà nước cấm lưu hành; 04 ống nhựa màu trắng loại ống hút, 20 túi nilon kích thước 2x1,5cm, 01 thanh kim loại dạng ống dài 07cm, 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng là vật không có giá trị cần tịch thu cho tiêu hủy. Chiếc điện thoại Nokia 220 màu đen, kèm theo sim số 0392.075.065 là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với Đỗ Minh L: Tài liệu điều tra không đủ không có căn cứ xác định L là người đưa hộp giấy màu đen có chứa ma túy cho Tr ngày 22/12/2018. Do vậy không có đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L.
Đối với TA là người đưa Tr đến nhà L nhưng không biết mục đích Tr đến mua ma túy, tài liệu điều tra không xác định rõ tên tuổi, địa chỉ của TA nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với TA.
Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn Tr 07 năm tù (bẩy năm tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam 24/12/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 81/PC09 mẫu vật hoàn lại của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; 04 ống nhựa màu trắng loại ống hút, 20 túi nilon kích thước 2x1,5cm, 01 thanh kim loại dạng ống dài 07cm, 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo chiếc điện thoại Nokia 220 màu đen, kèm theo sim số 0392.075.065. (Tình trạng, số lượng vật chứng theo phiếu nhập kho ngày 12/6/2019 giữa cơ quan Công an huyện Tiên Lữ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ).
Về án phí: Bị cáo Đặng Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Tiên Lữ; - Chi cục THADS huyện Tiên Lữ; - CA huyện Tiên Lữ; - CA Trại tạm giam - Phòng KTNV Tòa án tỉnh; - Lưu: Hồ sơ vụ án, THA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Mạnh Quang |