- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo E - phạm tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (điều 227 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo E phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 227 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 15/2019/HS-ST Ngày: 10/05/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Thung. 2. Ông Võ Khắc Duy. - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trinh - Kiểm sát viên. Ngày 10 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2019/HSST-QĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên: E, sinh năm 1970. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Họ và tên cha: N, sinh năm 1930. Họ và tên mẹ: A, sinh năm 1930 (chết ngày 3/5/2019) Họ và tên vợ: Trương Thị Hồng T, sinh năm 1970. Có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án: Không có. Tiền sự: Ngày 13-02-2018, bị Công an huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản (cát san lắp) không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, (đã nộp phạt xong). Tạm giữ, tạm giam: Không có. Áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1/ Lê Văn R, sinh năm 1971 (vắng mặt); 2/ Đinh Thị D, sinh năm 1972 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. 3/ Đinh Thanh V, sinh năm 1871 (vắng mặt). Địa chỉ: Khóm D, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. - Người làm chứng: 1/ E1, sinh năm 1979 (có mặt); 2/ S, sinh năm 1948 (vắng mặt); 3/ T, sinh năm 1989 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: E sinh sống bằng nghề làm thuê. Ngày 14-01-2018 E cùng Võ Văn T và Võ Văn C khai thác cát trái phép trên sông Tiền thuộc địa phận ấp Bình Hòa, xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp bị Công an huyện Thanh Bình bắt quả tang. Do không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm, ngày 13- 02-2018 Công an huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp đã xử phạt vi phạm hành chính đối với E là 2.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản (cát san lắp) không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, E đã thi hành quyết định xong vào 13-02-2018. Qua mối quan hệ quen biết, Lê Văn R sinh năm 1971, cư trú tại ấp Hạ, xã Tân Bình, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp giao cho E 01 ghe gỗ trọng tải khoảng 30 tấn, không số đăng ký, trên ghe có gắn máy chạy, cùng với hệ thống máy bơm, hút cát để E đi vận chuyển cát thuê cho R. Ngày 25-02-2018, sau khi hợp đồng bơm cát cho anh H ở xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp 18m3 cát, R kêu E đến bãi cát Ba
Mun ở xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nhận cát về giao cho anh H, nhưng nghe E nói để ra sông khai thác cát trái phép giao cho anh H thì R đồng ý. Để thực hiện việc khai thác cát trên sông, E thuê E1, T và Lý Tào S cùng đi theo ghe để thực hiện. Lúc 18 giờ 00 phút, ngày 26-02-2018 E chạy ghe ra sông Tiền thuộc địa phận tổ 64, khóm 5, phường 11, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp khai thác được 08m3 cát thì bị phát hiện bắt quả tang. Tang vật tạm giữ gồm: 01 (một) ghe gỗ không có số đăng ký, trọng tải khoảng 30 tấn; 01 (một) máy dầu hiệu Yamaha gắn trực tiếp vào ghe, trên máy có số 70E1251100; 01 (một) máy dầu loại 6DERT, trên máy có số 0712122; 01(một) máy dầu, trên máy có số 332710; 01(một) máy dầu nhãn hiệu NS70T, trên máy có số NS70-T02492; 01(một) ống nhựa màu xanh, đường kính 12cm, dài 21 mét. Các vật chứng nêu trên hiện được tạm giữ, quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Đối với 08m3 cát được Cơ quan Công an xả lại tại địa điểm khai thác vào ngày 27-02-2018. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là của Lê Văn R và vợ là chị Đinh Thị D. Đây là tài sản chung của gia đình nhưng chị D giao cho R toàn quyền quản lý, sử dụng. R lại giao cho E sử dụng vì thế Cơ quan Công an đã giao cho E quản lý. Ngày 06-6-2018, Cơ quan điều tra đã kê biên ngoài số tang vật, phương tiện vi phạm nêu trên còn kê biên một (01) máy dầu hiệu Yamaha dùng để vận hành ghe mà trong biên bản vụ việc không đề cập đến. Theo Kết luận định giá tài sản số 57/KL-ĐGTS ngày 02-4-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 08m3 cát san lắp có giá 480.000 đồng. Trong quá trình điều tra E khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên, lời khai bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Tại cáo trạng số 06/CT-VKS-P3 ngày 15-3-2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo E về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo điểm đ, khoản 1, Điều 227 Bộ Luật hình sự. Đồng thời phân tích cấu thành tội phạm cũng như nêu các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Theo đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo E phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”, áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo E với
mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với vật chứng là phương tiện dùng vào việc phạm tội như cáo trạng. Bị cáo không tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp. [2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo E đã thừa nhận hành vi của mình như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 26-02-2018, E cùng E1, T và Lý Tào S cùng chạy ghe ra sông Tiền thuộc địa phận tổ 64, khóm 5, phường 11, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp khai thác cát trái phép. Khi khai thác được 08m3 cát thì bị Cảnh sát đường thủy Công an tỉnh Đồng Tháp phát hiện bắt quả tang. Trước đó, ngày 13/02/2018, bị cáo đã bị Công an huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản (cát san lắp) không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, Bị cáo đã thi hành quyết định xong vào 13/02/2018. [3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi lần này của bị cáo tuy giá trị khoáng sản không đủ định lượng nhưng đã bị xử lý hành chính về hành vi này nhưng lại tiếp tục vi phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan quản lý Nhà nước về quản lý khai thác tài nguyên. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý biết sai phạm nhưng vẫn thực hiện. Từ những phân tích nêu trên đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 227 Bộ Luật hình sự như sau:
1. Người nào vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên trong đất liền, hải đảo, nội thủy, vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và vùng trời của Việt Nam mà không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: . . . . . . . . . . . . . . đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. [4] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về khai thác tài nguyên, đồng thời gây ra một dư luận xấu trong xã hội. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. [5] Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Ngoài ra, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3, Điều 227 Bộ luật hình sự như đại diện Viện kiểm sát đề nghị. [6] Đối với Lê Văn R, là chủ phương tiện giao cho bị cáo E thực hiện hành vi khai thác cát trái phép nhưng chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố Cao Lãnh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với T, E1 cùng bị cáo E thực hiện hành vi khai thác cát trái phép nhưng chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an tỉnh Đồng Tháp đã chuyển hồ sơ cho Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tỉnh xử phạt vi phạm hành chính đối với T và E1 (đã có quyết định xử phạt). Đối với Lý Tào S, hiện chưa xác định được địa chỉ cụ thể, Công an xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới xác định không tìm được dữ liệu quản lý nơi cư trú, khi nào tìm được xử lý sau.
Về xử lý vật chứng gồm: 01 (một) ghe gỗ không có số đăng ký, trọng tải khoảng 30 tấn; 01 (một) máy dầu hiệu Yamaha gắn trực tiếp vào ghe, trên máy có số 70E1251100; 01 (một) máy dầu loại 6DERT, trên máy có số 0712122; 01(một) máy dầu, trên máy có số 332710; 01(một) máy dầu nhãn hiệu NS70T, trên máy có số NS70-T02492; 01(một) ống nhựa màu xanh, đường kính 12cm, dài 21 mét của Lê Văn R giao cho bị cáo E thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận. [8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 227; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo E phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Xử phạt bị cáo E 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo E. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 47 Bộ Luật hình sự và điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước các tài sản gồm: 01 (một) ghe gỗ không có số đăng ký, trọng tải khoảng 30 tấn; 01 (một) máy dầu hiệu Yamaha gắn trực tiếp vào ghe, trên máy có số 70E1251100; 01 (một) máy dầu loại 6DERT, trên máy có số 0712122; 01(một) máy dầu, trên máy có số 332710; 01(một) máy dầu nhãn hiệu NS70T, trên máy có số NS70-T02492; 01(một) ống nhựa màu xanh, đường kính 12cm, dài 21 mét. (Các vật chứng nêu trên hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý). * Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo E phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp; Đã ký - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đồng Tháp; - Ban nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - NLQ; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA.TA tỉnh Đồng Tháp; - Lưu: HSVA (Trãi). Lê Hồng Nước | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |