- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 15 /2019/HS-ST Ngày: 15 /5 /2019 NHÂN DANH NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dƣơng Ngọc Tam. Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lò Trung Thành ; Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên. tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 19 HS ngày 03/5/2019 đối với bị cáo: Cộp, huyện S, tỉnh Sơn La. Trọt; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; con ông: Tòng Văn C và bà: Lƣờng 18/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 27/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, Sơn La xử phạt 06 tháng tù, năm 2006 bị xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2011 bị Tòa nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trũ trái phép chất ngày 10/01/2019 cho đến nay, “có mặt”. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Sơn La, có mặt. | Ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, |
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 12 giờ 40 ngày 10 tháng 01 năm 2019 Tòng Văn T một mình điều khiển xe máy đến bản Khá, xã Mƣờng Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La gặp và mua đƣợc 01 gói Heroine của một ngƣời không quen biết với số tiền 70.000 đồng, mục đích để sử dụng, trên đƣờng về đến trung tâm bản Khá, xã Mƣờng Lạn, huyện Sốp Cộp thì bị Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện thu giữ tại túi áo bên trái đang mặc của bị cáo 01 gói giấy màu xanh đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng, Toan khai nhận là Heroine và 01 xe máy hiệu Wave màu sơn đen, biển kiểm soát 29Z7- 0927 , số khung 190445, số máy: 2990472. Vật chứng đƣợc niêm phong theo quy định.
Ngày 11/01/2019 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định, xác định khối lƣợng vật chứng của Tòng Văn T có khối lƣợng 0,129 gam, đã trích hết làm mẫu giám định ký hiệu T.
Tại bản kết luận giám định số 232 ngày 14/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu giám định là 0,129gam".Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,129gam.
Bản cáo trạng số 17 /CT-VKS ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Tòng Văn Toan về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy qui định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 5 năm 6 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Chiếc xe máy biển kiểm soát 29Z7- 0927 bị cáo T mƣợn đi mua ma túy, là tài sản chung của gia đình ông Tòng Văn Chiểu bố đẻ của bị cáo, cần trả lại cho gia đình ông Chiểu, các vật chứng khác không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phạm tội cần áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH/14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về nguồn gốc 0,129 gam ma túy, bị cáo khai mua của một ngƣời dân tộc không biết tên và địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo không còn căn cứ khác chứng minh, nên cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo, vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn T khai nhận ngày 10 tháng 01 năm 2019 đã mua 01 gói Heroine với số tiền 70.000 đồng của một ngƣời không quen biết, trên đƣờng về đã bị Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang thu giữ, qua cân tịnh số ma túy có khối lƣợng 0,129 gam; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang hồi 13 giờ 30 ngày 10 tháng 01 năm 2019; Biên bản cân tịnh vật chứng, kết luận giám định số 232, ngày 14/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, vật chứng của vụ án là 0,129 gam Heroine. Trƣớc khi phạm tội lần này bị cáo có 02 tiền án về tội ma túy chƣa đƣợc xóa án tích, hành vi phạm tội của bị cáo ngày 10/01/2019 là tái phạm nguy hiểm, đƣợc quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tòng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến chính sách độc quyền của nhà nƣớc về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo là ngƣời có đủ năng lực pháp luật, nhận thức đƣợc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và để phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm, đƣợc áp dụng làm tình tiết định khung, nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên đƣợc hƣởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Với các căn cứ nêu trên ; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đƣa ra mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi phạm tội là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng, xin giảm nhẹ hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng.
Về vật chứng: Tại hồ sơ và tại phiên tòa đã xác định đƣợc chiếc xe máy biển kiểm soát 29Z7- 0927, nhãn hiệu HONDA Wave alpha màu sơn đen, số máy : 2990472, số khung: 190445 đã qua sử dụng là tài sản chung của gia đình ông Tòng Văn Ch mua lại của con gái là Tòng Thị Thanh Tâm, khi bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy ông Chiểu không biết; cần trả lại tài sản cho chủ sở hữu là ông Tòng Văn Ch;
01(một) phong bì màu trắng của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong gián kín. Mặt trƣớc phong bì ghi: Vật chứng lƣu kho vụ: Tòng Văn Toan, sinh năm 1982, bên trong phong bì có: 01(một) phong bì thƣ màu trắng niêm phong ban đầu cùng 01 mảnh giấy màu xanh đỏ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoan 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự ; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự,
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Tòng Văn T 05 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2019.
Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu để tiêu hủy 01 (Một) phong bì màu trắng của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong dán kín, mặt trƣớc phong bì ghi: „Vật chứng lƣu kho vụ: Tòng Văn T, sinh năm 1982 trú tại bản Huổi P, xã S, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 10/01/2019, bên trong phong bì có : 01(một) phong bì thƣ niêm phong ban đầu cùng 01 mảnh giấy màu xanh đỏ. Mặt sau phong bì trên phần giấy dán niêm phong có dòng chữ ghi Công an huyện Sốp Cộp Cơ quan CSĐT ; có 2 dòng chữ ghi giấy niêm phong ngày 10/01/2019, có 5 chữ ký, 05 dòng chữ ghi đầy đủ tên của thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ tròn của Công an huyện Sốp Cộp.
- Tuyên trả cho ông Tòng Văn Ch, trú tại bản Huổi P, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave alpha màu sơn đen, biển kiểm soát 29Z7- 0927, số máy : 2990472, số khung: 190445 đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 4 năm 2019, giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện và Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội ; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; buộc bị cáo Tòng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/5/2019).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Công an huyện Sốp Cộp; - Thi hành HS; - Ngƣời CQLNV liên quan; - Trại giam; - Sở Tƣ pháp tỉnh Sơn La; - Thi HADS huyện Sốp Cộp; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Ngọc Tam |