- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vang Van Pan - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Vàng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HS-ST Ngày 14 tháng 5 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lò Văn Chiên;
Ông Hoàng A Dọ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2019/TLHS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn P, tên gọi khác: không; sinh năm 1974, tại: huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Văn S (đã chết) và bà Lù Thị H, sinh năm 1956, hiện đang sinh sống tại bản H, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; vợ: Ma Thị T, sinh năm 1974, hiện đang sinh sống tại bản H, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/02/2019 đến ngày 27/02/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 14/02/2019, Vàng Văn P đi bộ từ nhà đến nhà Lò Thị T, sinh năm 1970, trú tại khu C7, Nà Cúng, xã Bản Lang, mục đích đi tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Đến nhà của T, thấy nhà T đóng cửa nên P đi vòng ra đằng sau nhà để gọi T. P và T đã nói chuyện với nhau qua cửa sổ nhà T, qua trao đổi, P đã mua được từ nhà của T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu xanh buộc thắt lại với giá 02 triệu đồng. Mua được Heroine, P không mở ra xem mà bỏ vào túi quần đang mặc rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà, P dùng dao lam có sẵn trong nhà chia nhỏ số Heroine mua được thành 36 phần nhỏ và đem gói bằng nilon màu xanh buộc thắt lại, sau đó P gói toàn bộ số Heroine bằng túi nilon màu trắng, đem cất giấu ở dưới gối giường ngủ trên gác xép nhà P và mỗi ngày đều lấy ra để sử dụng cho bản thân. Tổng cộng, P đã sử dụng hết 12 gói bằng hình thức hít. Hồi 09 giờ 50 phút, ngày 18/02/2019, Tổ công tác Công an huyện Phong Thổ đi làm nhiệm vụ, tiến hành kiểm tra tại nhà P, qua vận động, giải thích, P đã tự giác đi lấy toàn bộ số Heroine còn lại P đang cất giấu giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, thu giữ toàn bộ tang vật gồm 24 gói chất bột khô vón cục màu trắng do P giao nộp và khai đó là Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số: 117/GĐ-KTHS, ngày 25/02/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Vật chứng thu giữ của Vàng Văn P có tổng khối lượng là 2,04 gam, là ma túy, loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 19/CT-VKS, ngày 17/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử Vàng Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi đúng như nội dung Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự xử phạt bị cáo Vàng Văn P từ 24 (Hai mươi tư) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định và vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với qui định của pháp luật.
Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Vàng Văn P đã thực hiện:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và gửi đi giám định, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 09 giờ 50 phút, ngày 18/02/2019, Tổ công tác Công an huyện Phong Thổ tiến hành kiểm tra tại nhà Vàng Văn P. Qua vận động, giải thích, P đã tự giác đi lấy 24 gói Heroine đang cất giấu ở dưới gối giường ngủ trên gác xép nhà P giao nộp cho tổ công tác và khai nhận số Heroine đó do P mua về để sử dụng cho bản thân. Qua kết quả giám định xác định được vật chứng thu giữ của Vàng Văn P có tổng khối lượng là 2,04 gam, là ma túy, loại Heroine.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Đối với Lò Thị T, quá trình điều tra T không thừa nhận việc đã bán Heroine cho P, ngoài lời khai của P thì không có chứng cứ nào khác về sự việc này nên không có căn cứ để xác định xử lý hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với Lò Thị T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra về hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy của các đối tượng khác, giúp cơ quan điều tra triệt xóa 02 điểm phức tạp về tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã có văn bản số 03/ĐN, ngày 01/4/2019 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo. Bị cáo là người dân tộc ít người, sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, xét về nhân thân của bị cáo là người sử dụng ma túy, loại Heroine, đã nhiều năm, sử dụng nhiều lần trong ngày.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine còn lại sau giá định và vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Vàng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vàng Văn P: 02 (Hai) năm tù.
Bị cáo được khấu trừ thời gian bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/02/2019 đến ngày 27/02/2019. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định và vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 25 phút, ngày 18/4/2019, tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện Phong Thổ; - CA huyện Phong Thổ (CQ CSĐT, THAHS); - THADS huyện Phong Thổ; - UBND xã Bản Lang; - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |