vanban.org

Bản án 15/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 15/2019/HS-ST
Ngày: 12 - 4- 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Tố Quyên

2. Ông Nguyễn Tất Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên toà: Ông Triệu Đức Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Khe Mo

huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2019/TLST-HS ngày 19/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 01/4/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Văn L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/5/1965;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm CL, xã TL, huyện Đ, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Dương Văn K; Con bà: Mạch Thị S, đều đã chết; có vợ là: Nông Thị H, đã chết, có 02 Ch, con lớn đã chết, con nhỏ sinh năm 1987; Gia đình có 10 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Bùi Đức T, sinh năm 1974 – Vắng mặt

Trú tại: Xóm MH, xã CT, huyện Đ, tỉnh T.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Đỗ Văn Hg, sinh năm 1979 – Vắng mặt.

Trú tại: Xóm ĐH, xã HT, huyện Đ, tỉnh T.

+ Người chứng kiến:

1. Anh Dương Văn Ch, sinh năm 1987 – Vắng mặt.

2. Ông Quách Văn Cg, sinh năm 1966 – Vắng mặt.

Đều trú tại: Xóm CĐ, xã TL, huyện Đ, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 19/12/2018, tổ công tác Công an huyện Đồng Hỷ

đang làm nhiệm vụ tại khu vực xã TL, huyện Đ, tỉnh T thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà ở của Dương Văn L thuộc xóm CL, xã TL, huyện Đ, tỉnh T đang có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác đến nhà L và giữ được Dương Văn L (sinh năm 1965, trú tại: xóm CL, xã TL, huyện Đ, tỉnh T) và Bùi Đức T, (sinh năm 1974, trú tại: xóm MH, xã CT, huyện Đ, tỉnh T). Kiểm tra người L, phát hiện, thu giữ 07 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều có chất bột màu trắng tại túi áo khoác bên phải L đang mặc, theo L khai đó là Heroine của L. Ngoài ra, còn thu giữ tại túi áo ngực bên trái L đang mặc 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Xphone, vỏ màu tím than và số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Kiểm tra người Thái không thu giữ được gì. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với L, Thái và niêm phong vật chứng theo quy định.

Hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện

Đồng Hỷ đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn L, kết quả thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 27 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng tại sát chân tường sau nhà bếp của Dương Văn L, theo L khai đó là Heroine của L. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Loncin, kiểu dáng Dream, BKS: 20F9 – xxxx.

Tiến hành cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của L

khi bắt quả tang là 0.218gam (lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định - ký hiệu A1), số chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của L là 0,774gam (lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định - ký hiệu A2).

Tại bản kết luận giám định số: 7161/C09 – TT2 ngày 28/12/2018 của

Viện khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận. Mẫu A1; A2 gửi giám định là ma túy loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Văn L đã khai nhận:

Do là người nghiện ma túy nên L thường xuyên đi mua ma túy ở khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ thuộc phường Q, thành phố T về sử dụng và bán lại để kiếm lời. Ngày 19/12/2018, L đi một mình đến khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ thuộc phường phường Q, thành phố T hỏi và mua của một người phụ nữ không quen biết 1.100.000 đồng tiền Heroine và được 01 túi nilon bên trong có nhiều gói giấy bạc màu vàng, mua xong L mang về nhà cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Trong khoảng từ tháng 11/2018 đến tháng 12/2018, L đã nhiều lần bán Heroine cho nhiều người nhưng L chỉ nhớ được 02 người đó là Bùi Đức T, sinh năm 1974, trú tại xóm MH, xã CT, huyện Đ và Đỗ Văn Hg, sinh năm 1979, trú tại xóm ĐH, xã HT, huyện Đồng Hỷ; cụ thể như sau:

- Bán cho Bùi Đức T: Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 18/12/2018, L đã

bán cho Thái 01 gói Heroine với giá 100.000đ. Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 19/12/2018, L đã bán cho Thái 02 gói Heroine với giá 200.000đ.

- Bán cho Đỗ Văn Hg (còn gọi là Hg Dung) 02 lần: Lần thứ nhất, vào

khoảng 19 giờ ngày 19/11/2018, L đã bán cho Hg 01 gói Heroine với giá 100.000đ. Lần thứ hai, khoảng 19 giờ ngày 20/11/2018, L đã bán cho Hg 01 gói Heroine với giá 100.000đ.

Đến khoảng 18 giờ 10 phút ngày 19/12/2018, L đang ở nhà thì có Bùi

Đức T đến nhà hỏi mua 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) tiền Heroine của L, L đồng ý bán và nhận tiền của Thái rồi đút vào trong túi áo ngực bên trái mình đang mặc và đi ra phía sau nhà bếp lấy Heroine lên để bán cho Thái nhưng chưa kịp đưa Heroine cho Thái thì bị tổ công tác Công an huyện Đồng Hỷ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong (ký hiệu LK1, LK2); 01

phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu số: 7161/C09 (TT2) của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE vỏ màu tím than đã cũ có số IMEI1: 356281072045707; số IMEI2: 356281072045715; 01(một) xe môtô kiểu dáng Dream, BKS: 20F9-xxxx và 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSĐH, ngày 18/3/2019 Viện kiểm sát nhân

dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Dương Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa, sau

khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Dương Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

túy”;

- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106

Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong ký hiệu LK1, LK2 và

7161/C09 (TT2).

+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE vỏ màu

tím than đã cũ có số IMEI1: 356281072045707; số IMEI2: 356281072045715; 01 xe môtô kiểu dáng Dream, BKS: 20F9-xxxx.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng.

+ Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng đối với bị cáo do bán

ma túy mà có.

- Về án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội

của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tội danh: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 19/12/2018, tổ công tác

Công an huyện Đ, tỉnh T phát hiện bắt quả tang Dương Văn L, sinh năm 1965, trú tại: xóm CL, xã TL, huyện Đ, tỉnh T đang có hành vi bán Heroine cho Bùi Đức T, sinh năm 1974, trú tại: xóm MH, xã CT, huyện Đ, tỉnh T tại nhà ở của L, thu giữ 0,218gam Heroine và số tiền 600.000 đồng.

Vào hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Đồng Hỷ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn L tại xóm CL, xã TL, huyện Đ, tỉnh T thu giữ 0,774gam Heroine và một số vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Dương Văn L còn khai nhận tại nhà ở

của mình thuộc xóm CL, xã TL, huyện Đ, tỉnh T, L đã nhiều lần bán Heroine cho Bùi Đức T và Đỗ Văn Hg; cụ thể như sau:

- Bán cho Bùi Đức T: Lần thứ nhất, khoảng 17 giờ ngày 18/12/2018, bán

cho Thái 01 gói Heroine với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Lần thứ hai, khoảng 14 giờ ngày 19/12/2018, bán cho Thái 02 gói Heroine với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Bán cho Đỗ Văn Hg: Lần thứ nhất, khoảng 19 giờ ngày 19/11/2018 bán

cho Hg 01 gói Heroine với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Lần thứ hai, khoảng 19 giờ ngày 20/11/2018, bán cho Hg 01 gói Heroine với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Văn L khai

nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lờ i khai nhâ ̣n tô ̣i của bi ̣ cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i cơ quan điều tra , phù hợp vớ i lờ i khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luâ ̣n giám định v à những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hô ̣i đồng xét xử xét thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm

đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07

năm đến 15 năm:

a)…

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến

500.000.000 đồng,....”

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, tự thú khai ra các lần phạm tội trước của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, buộc cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối

với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo

nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền từ 05 đến 07 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng đối với bị cáo do bán

ma túy mà có.

. Vật chứng của vụ án:

- Đối với 03 phong bì niêm phong kí hiệu LK1, LK2 và 7161/C09 (TT2)

(bên trong có chứa vỏ bì và số Heroine còn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 600.000 đồng thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang, đây là

số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm, do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE vỏ màu tím than đã

cũ có số IMEI1: 356281072045707; số IMEI2: 356281072045715; 01 chiếc xe môtô kiểu dáng Dream, BKS: 20F9-4847 thu giữ của bị cáo. Xét thấy: chiếc điện thoại và chiếc xe mô tô trên là của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội và không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng; tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền

kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên,

Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, bị cáo khai đã mua Heroine của một người phụ nữ

không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ, thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên; do không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ của người phụ nữ trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi mua Heroine để sử dụng của Bùi Đức T và Đỗ Văn Hg,

xét thấy hành vi này của Thái và Hg chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 28/02/2019 Công an huyện Đồng Hỷ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Đức T và Đỗ Văn Hg là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma

túy”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s

khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình. Xử phạt: Dƣơng Văn L 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2018. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn L 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều

106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) phong bì niêm phong kí hiệu LK1, LK2 và

7161/C09 (TT2).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng)

tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT1.

- Trả lại bị cáo Dương Văn L:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE vỏ màu tím than có số

IMEI1: 356281072045707, số IMEI2: 356281072045715 được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT.

+ 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream mang biển kiểm soát: 20F9-xxxx,

số máy 1P50FMG-3*10591221, số khung: *HXDXCGL0IIY0591221*, xe không có giấy tờ kèm theo; tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tài sản trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/4/2019

giữa Công an huyện Đồng Hỷ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đồng Hỷ).

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng)

đối với bị cáo Dương Văn L do bán ma túy mà có.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Dương Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ