- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phùng Thị Xuân L với anh Lê Công Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HNGĐ-ST Ngày: 24/9/2019 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Đào Minh Trung
2.Ông Bùi Đức Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Xuân L, sinh năm 1998
Địa chỉ: Th 3, xã B N, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Bị đơn: Anh Lê Công Th, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn 3, xã B N, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Các đương sự có mặt mặt tại tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phùng Thị Xuân L trình bày: Chị và anh Lê Công Th tự nguyện quen biết và tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định vào ngày 16/5/2017. Sau kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà mẹ ruột chị được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân tính tình vợ chồng không hợp, thường cải vã, nên anh Th bỏ về nhà cha mẹ ruột anh ở, chị đi vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn nên vợ chồng ly thân từ tháng 8/2018 đến nay, không ai còn liên lạc với nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ
- 2 -
chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Công Th.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con tên Lê Công Th (giới tính: Nam) – sinh ngày 28/12/2014; cháu Th hiện đang ở với chị. Ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục con chung Lê Công Th đến trưởng thành, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm công nhân của Công ty TNHH đầu tư và xây dựng Trường Long ở thành phố Hồ Chí Minh, lương 12.000.000 đồng/tháng (có giấy xác nhận thu nhập).
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, biên bản ghi lời khai và quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Lê Công Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất như lời trình bày của chị Phùng Thị Xuân L về thời gian điều kiện kết hôn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn thường xảy ra cãi vã là do khó khăn về tài chính. Nay chị L xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con tên Lê Công Th (giới tính: Nam) – sinh ngày 28/12/2014; con lâu nay ở với chị L, khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng giáo dục con chung Lê Công Th đến trưởng thành, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Anh hiện đang chạy xe cho anh Lê Minh Khương con ông bác thu nhập 8.000.000 đồng/tháng, anh làm cho anh em trong nhà chứ không phải công ty nên không có xác nhận.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến: việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật; việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự đúng theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Áp dụng các Điều 8, 9, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Xuân L, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phùng Thị Xuân L với anh Lê Công Th, giao con chung Lê Công Th (giới tính: Nam) – sinh ngày 28/12/2014 cho chị L nuôi dưỡng, vì con lâu nay ở với chị L, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị L không yêu cầu. Án phí hôn nhân sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Phùng Thị Xuân L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân
- 3 -
huyện Tây Sơn giải quyết vụ án hôn nhân của chị. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Xuân L và anh Lê Công Th kết hôn vào ngày 16/5/2017 trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết tại UBND xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do tính tình không hợp thường xuyên cãi vã, mẫu thuẫn không được giải quyết triệt để nên ngày càng trầm trọng, mâu thuẫn không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị L xin ly hôn anh Th, anh Th cũng đồng ý. Việc chị L và anh Th thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa công nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con tên Lê Công Th (giới tính: Nam) – sinh ngày 28/12/2014. Ly hôn chị L và anh Th đều có yêu cầu được nuôi cháu Th, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét cháu Th lâu nay ở với chị L đã ổn định hơn nữa cháu Th còn nhỏ rất cần sự chăm con của mẹ, chị L có công việc và thu nhập ổn định được Công ty TNHH đầu tư và xây dựng Trường Long xác nhận, còn anh Th làm nghề lái xe hay đi xa nhà nên không có điều kiện chăm sóc nuôi con, tại Tòa anh Th cũng thừa nhận thu nhập của anh không ổn định nên không đảm bảo quyền lợi nuôi con. Do đó HĐXX giao cháu Thành cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị L không yêu cầu nên Tòa không xét.
Anh Lê Công Th yêu cầu được nuôi con chung Lê Công Th và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con là không phù hợp với thực tế và quy định pháp luật, chị L không đồng ý yêu cầu của anh Th nên HĐXX không chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh Th không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, và khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi người phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng chị Phùng Thị Xuân L tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006352 ngày 01/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
- 4 -
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 8, 9, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phùng Thị Xuân L với anh Lê Công Th.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Công Th (giới tính: Nam) – sinh ngày 28/12/2014 cho chị Phùng Thị Xuân L tiếp tục nuôi dưỡng, anh Lê Công Th không phải cấp dưỡng nuôi con, vì chị L không yêu cầu.
Bác yêu cầu của anh Lê Công Th về việc yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Công Thành là không có căn cứ.
Anh Th không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phùng Thị Xuân L tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006352 ngày 01/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
5. Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2019) lên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định để xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THADS huyện Tây Sơn; - UBND xã Bình Nghi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Minh Trí |