vanban.org

Bản án 15/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ChÊp nhËn yªu cÇu xin ly hôn cña nguyªn ®¬n anh Nguyễn Phước H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phước H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 27/11/2008 và Nguyễn H, sinh ngày 30/01/2011 cho chị T trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu My và cháu Hoàng đủ 18 tuổi. Anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ChÊp nhËn yªu cÇu xin ly hôn cña nguyªn ®¬n anh Nguyễn Phước H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HIỆP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 15/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-6- 2020
V/v “ Tranh chấp Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Minh Sơn

2. Bà Phan Thị Trúc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang: không tham gia phiên toà:

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2020 về việc “ Tranh chấp ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXX- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số:09/2020 ngày 15 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phước H, sinh năm 1984 (Có mặt)

Địa chỉ: Số 226, ấp Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

2/. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/02/2020 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Phước H trình bày:

Anh H và cô Nguyễn Thị T chung sống với nhau vào tháng 4 năm 2007, vợ chồng không có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang vào ngày 16/01/2009. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 01 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau, có nhiều quan điểm bất đồng, dẫn đến gia đình không hạnh phúc.

Nay, anh H xét thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 27/11/2008 và Nguyễn H, sinh ngày 30/01/2011 các con đã có giấy khai sanh và đang ở với chị T.

- Về tài sản chung : Vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Không có nợ chung.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Phước H vẫn giữ nguyên yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

- Về con chung: Anh H nhường quyền nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 27/11/2008 và cháu Nguyễn H, sinh ngày 30/01/2011 cho chị T trực tiếp trong nôm, giáo dục nuôi dưỡng. Anh H Không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi vọng của 02 cháu Nguyễn Thị Diễm M và cháu Nguyễn H ngày ngày 29 tháng 5 năm 2020 thì 02 cháu có nguyện vọng ở với chị Nguyễn Thị T.

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, hợp lệ giấy triệu tập cho chị Nguyễn Thị T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng chị T đều không có mặt và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn bị đơn chị H đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 10, ấp Kinh 2A, xã Tân Hiệp A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự .

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được triệu tập và tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không vì sự kiện bất khả kháng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Phước H và chị Nguyễn Thị T được xác lập trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy nhân dân xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Quyển số:08 ngày 16/01/2009 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của anh H thấy rằng sau khi kết hôn anh H và chị T chung sống hạnh phúc. Đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Anh H và chị T đã ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau điều này chứng tỏa tình trạng hôn nhân không đạt được mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;…. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,….”.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt họp lệ cho chị T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để Tòa án động viên anh chị quay về đoàn tụ tiếp tục cuộc sống hôn nhân và nuôi dạy con chung nhưng chị T điều vắng mặt không có lý do. Đều này chứng tỏa chị T bỏ mặc không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H nữa.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H.

Về con chung: Anh H xác nhận vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 27/11/2008 và Nguyễn H, sinh ngày 30/01/2011 hiện nay các con đang ở với chị T, anh H nhường quyền nuôi hai con cho chị T nuôi anh không cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu nhường quyền giao con của anh H Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi ly thân đến nay cháu Diễm M và cháu Nguyễn H đang ở với chị T theo biên bản ghi nguyện vọng ngày 29 tháng 5 năm 2020 thì cháu My và cháu Hoàng có nguyện vọng ở với chị Nguyễn Thị T. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của anh H. Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 27/11/2008 và Nguyễn H, sinh ngày 30/01/2011 cho chị T trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu M và cháu H đủ 18 tuổi. Anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Phước H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. ChÊp nhËn yªu cÇu xin ly hôn cña nguyªn ®¬n anh Nguyễn Phước H.

2.Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phước H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

3. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 27/11/2008 và Nguyễn H, sinh ngày 30/01/2011 cho chị T trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu My và cháu Hoàng đủ 18 tuổi. Anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5.Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Phước H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số:0003755 ngày 24/02/2020 của chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Anh H đã nộp đủ.

6. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Phước H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ