- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Hoàng Văn Q Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: bà Vũ Thị H và ông Hoàng Văn Q được ly hôn
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/2019/HNGĐ-ST Ngày: 07/11/2019 V/v “ Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Rung K’Nhơn
- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông: Nguyễn Cảnh Minh
- Bà: Phan Thị Cẩm
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh – Cán bộ
Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 07 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng mở phiên Tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số: 56/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15 /2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H; Sinh năm: 1984
Địa chỉ: Thôn Tổ dân phố 6, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Có mặt tại phiên tòa
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn Q; Sinh năm: 1976
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay thì:
Bà và ông Q chung sống với nhau từ năm 2003 đến ngày 30/11/2009 thì có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn,hai vợ chồng sinh sống và làm ăn tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Thời gian đầu, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2016 bà và 02 người con chung chuyển đến Đắk Lắk, còn ông Q thì sống tại P, thỉnh thoảng ông Q vẫn qua lại thăm con nhưng tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hòa giải được và ngày càng trâm trọng. Nguyên nhân là do không tin tưởng nhau, ông Q hay ghen tuông vô cớ, thậm chí đánh đập bà. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đươc nên chị yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Văn Q.
Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông Q có 02 người con chung là cháu Hoàng Vũ Nhật H, sinh ngày 25/12/2003; Cháu Hoàng Vũ Trường H, sinh ngày 02/10/2009. Sau khi ly hôn bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu và không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà và ông Q tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Vê nợ chung: không có.
Ngoài ra bà H không trình bày gì thêm.
Bị đơn- Hoàng Văn Q, tuy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lân nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để có cơ sở giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành hòa giải, nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của các bên đương sự: Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai nhận của các bên đương sự tại phiên tòa hôm nay thì thấy rằng: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông Q có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, quá trình chung sống, hai bên thường xuyên mâu thuẫn, bà H yêu cầu được ly hôn với ông Q. Còn đối với ông Q mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài vì vậy xét thấy tình cảm vợ chồng bà H – ông Q không còn khả năng hàn gắn lại được, nên Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn. Về con chung, Hoàng Vũ Nhật H, sinh ngày 25/12/2003; Cháu Hoàng Vũ Trường H, sinh ngày 02/10/2009, bà H có nguyện vọng được trực tiếp được nuôi dưỡng cr hai cháu va hai cháu cũng có nguyện vọng được sống với mẹ là bà H nên cân giao con chung cho bà H có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về nợ chung: không có và tài sản chung bà H và ông Q tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu xem xét các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm định tại tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp:
Bà Hồng và ông Q xây dựng gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống hai bên thường xuyên mâu thuẫn nên bà H có yêu cầu ly hôn với ông Q. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ kiện xin ly hôn giữa nguyên đơn là bà Vũ Thị Hồng và bị đơn ông Hoàng Văn Q.
[ 2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: ông Hoàng Văn Q có hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử xác định vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, giải quyết.
VÒ quan hÖ h«n nh©n: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Hồng đều có nguyện vọng được ly hôn với ông Q. Xét thấy trong quá trình chung sống bà H và ông Q thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vì vậy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn lại được, mục đích hôn nhân không đạt được, hơn nữa trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương thì thấy rằng cuộc sống chung của bà H và ông Q không được hòa thuận, hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị H.
Về con chung: Quá trình chung sống bà Hồng và ông Quang có 02 người con chung là cháu Hoàng Vũ Nhật H, sinh ngày 25/12/2003; Cháu Hoàng Vũ Trường H, sinh ngày 02/10/2009. Sau khi ly hôn bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu và không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của hai cháu đều muốn ở cùng mẹ là bà H nên giao cho bà H có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc các cháu đến khi đủ 18 tuổi và ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Về tài sản chung: bà H và ông Q tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết; nợ chung: Không có nên HĐXX không đặt ra đê xem xét.
Về án phí: áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Buộc Vũ Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Áp dụng khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH14 của UBTVQH quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: bà Vũ Thị H và ông Hoàng Văn Q được ly hôn
2. Về con chung: giao con chung là cháu: Hoàng Vũ Nhật H, sinh ngày 25/12/2003; Cháu Hoàng Vũ Trường H, sinh ngày 02/10/2009 cho bà Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân gia đình. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Buộc bà Vũ Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã tạm nộp trước tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông.
Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/11/2019), riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKS huyện Đam Rông; - CC THADS huyện Đam Rông; - Đương sự; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Hoàng Rung K’ Nhơn |