vanban.org

Bản án 15/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C về việc “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn chị Trần Thị N.

Buộc chị Trần Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C tổng số tiền nợ là 68.625.938 đồng (sáu mươi tám triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm ba mươi tám đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2019) là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng C - Trần Thị N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C về việc “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn chị Trần Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2019/DS-ST
Ngày: 19-9-2019
“V/v tranh chấp Hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Xuân Lợi

2. Bà Đậu Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đàm Xuân Tân - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2019/TLST-DS ngày 03/5/2019 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-DS, ngày 12/8/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C; địa chỉ: tòa nhà CC5, khu B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T - Tổng Giám đốc Ngân hàng C.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng P - Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Theo văn bản ủy quyền số 1792/QĐ-NHCS ngày 09/6/2015).

Người được ủy quyền lại: Bà Trần Thị Thu N - Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Theo văn bản ủy quyền số 63/NHCS-UQ ngày 18/02/2019); địa chỉ: xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn T, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28/3/2019, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 23/6/2014 giữa Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình với chị Trần Thị N đã giao kết Hợp đồng tín dụng số 6600000701777256, qua đó Ngân hàng cho chị N vay số tiền 12.000.000 đồng, chương trình cho vay NS&VSMTNT, lãi suất 0,8%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn cho vay là 60 tháng, kỳ trả nợ 06 tháng/lần, số tiền trả nợ 1.300.000 đồng/lần, hạn trả cuối cùng vào ngày 10/6/2019 và tiền lãi vay được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 10. Ngày 23/6/2014 Ngân hàng đã giải ngân cho chị N số tiền 12.000.000 đồng theo như hợp đồng hai bên ký kết.

Ngày 23/8/2016 giữa Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình với chị Trần Thị N tiếp tục giao kết Hợp đồng tín dụng số 6600000708245445, qua đó Ngân hàng cho chị N vay số tiền 48.000.000 đồng, chương trình cho vay SXKD tại vùng khó khăn, lãi suất 0,75%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn cho vay là 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ 16.000.000 đồng và hạn trả cuối cùng vào ngày 17/8/2019 và tiền lãi vay được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 17. Ngày 23/8/2016 Ngân hàng đã giải ngân cho chị N số tiền 48.000.000 đồng.

Quá trình sau khi ký kết và thực hiện Hợp đồng phía chị N chỉ mới trả được khoản tiền lãi theo hai Hợp đồng tín dụng là 10.902.761 đồng, đã không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Phía Ngân hàng đã thông báo, làm việc nhiều lần yêu cầu chị N phải trả khoản nợ bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi phát sinh nhưng chị N vẫn không thực hiện, không trả nợ.

Để thu hồi vốn cho Nhà nước, đại diện cho Ngân hàng C vẫn giữ nguyên yêu cầu và phạm vi khởi kiện của mình. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Trần Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2019) là 68.625.938 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 8.625.938 đồng và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.

Tại bản tự khai, biên bản phiên họp và hòa giải bị đơn chị Trần Thị N trình bày: Chị và Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình đã giao kết 02 Hợp đồng tín dụng vào ngày 23/6/2014 và ngày 23/8/2016 với tiền gốc, lãi suất, thời hạn vay, kỳ hạn trả nợ, mục đích vay như đại diện Ngân hàng đã trình bày. Chị đã được Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình giải ngân tổng số tiền gốc là 60.000.000 đồng. Chị thừa nhận tính đến ngày 17/3/2019, chị còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền là 65.764.095 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 5.764.095 đồng. Chị N đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để bàn bạc với chồng con tìm ra phương án trả nợ.

* Đại diện VKSND huyện Quảng Trạch phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đại diện nguyên đơn đã tuân theo pháp luật tố tụng. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt điều này thể hiện chị N không chấp hành pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; các Điều 90, 91, 94, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chị Trần Thị N phải trả nợ cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 68.625.938 đồng, trong đó: tiền gốc là 60.000.000 đồng, tiền lãi là 8.625.938 đồng và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh sau ngày 19/9/2019 cho đến khi thanh toán xong tiền nợ; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Giữa Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình với chị Trần Thị N đã ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay với mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, do chị Trần Thị N vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án đòi số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng ký kết. Vì vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Trần Thị N đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn chị Trần Thị N.

Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:

Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình với chị Trần Thị N đã giao kết Hợp đồng tín dụng số 6600000701777256, vào ngày 23/6/2014, qua đó Ngân hàng cho chị N vay số tiền 12.000.000 đồng, chương trình cho vay NS&VSMTNT, lãi suất 0,8%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn cho vay là 60 tháng, kỳ trả nợ 06 tháng/lần, số tiền trả nợ 1.300.000 đồng/lần, hạn trả cuối cùng vào ngày 10/6/2019 và tiền lãi vay được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 10. Hợp đồng tín dụng số 6600000708245445, ngày 23/8/2016, Ngân hàng cho chị N vay số tiền 48.000.000 đồng, chương trình cho vay SXKD tại vùng khó khăn, lãi suất 0,75%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn cho vay là 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ 16.000.000 đồng và hạn trả cuối cùng vào ngày 17/8/2019 và tiền lãi vay được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 17. Trên cơ sở các Hợp đồng ký kết, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho chị N vay như thỏa thuận. Như vậy, Hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên có hiệu lực thi hành, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay chị Trần Thị N chỉ mới thanh toán được một khoản tiền lãi cho Ngân hàng theo hai Hợp đồng tín dụng là 10.902.761 đồng, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm thời hạn thanh toán.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện để các bên thống nhất thỏa thuận phương án giải quyết vụ án, phương thức thanh toán khoản tiền nợ nhưng không có kết quả. Bị đơn chị Trần Thị N thừa nhận khoản tiền nợ nhưng vẫn không đưa ra được phương thức thực hiện nghĩa vụ trả nợ vào thời gian, số tiền trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2019) chị Trần Thị N còn nợ Ngân hàng C số tiền là 68.625.938 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 8.625.938 đồng.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu bị đơn chị Trần Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản tiền nợ cho Ngân hàng là hoàn toàn chính đáng, phù hợp được chấp nhận. Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 94 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C, buộc chị Trần Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ là 68.625.938 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 8.625.938 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2019) bị đơn chị Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị đơn chị Trần Thị N phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 94 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C về việc “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn chị Trần Thị N.

Buộc chị Trần Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C tổng số tiền nợ là 68.625.938 đồng (sáu mươi tám triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm ba mươi tám đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2019) là 8.625.938 đồng (tám triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm ba mươi tám đồng).

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (19/9/2019), chị Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”.

2. Về án phí: Buộc chị Trần Thị N phải chịu 3.431.000 đồng (ba triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, báo cho bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ