- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Thủy-Hùng VTS"
- Tòa quyết gì? Ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Th
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11; Điều 149 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/DS-PT Ngày: 05-3-2019 V v tranh ch p p đ ng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đình Loan
Ông V oàng Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước: Ông Trịnh Duy Trung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2019/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2019 về “Tranh ch p p đ ng vay tài sản”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2018/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23 2019 QĐPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13 2019 QĐ-PT ngày 27 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1972, địa chỉ: Tổ 5, khu phố 3, thị tr n C, huyện C, tỉnh Bình Phước (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Đặng Minh H, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu phố 4, thị tr n C, huyện C, tỉnh Bình Phước (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị Ng, sinh năm 1956 (có mặt)
- Chị Nguyễn Kiều D, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Bà Ng và chị D có cùng địa chỉ: Khu phố 4, thị tr n C, huyện C, tỉnh Bình Phước.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Th và bị đơn ông Đặng Minh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T trình bày:
Ngày 07/12/2013 anh Đặng Minh H có vay của bà Th số tiền 60.000.000 đ ng để mở phòng Nét siêu tốc. Knhi vay giữa bà Th và anh H có làm gi y biên nhận mư n tiền mặt do ông Đặng Văn cha ruột của anh H là người viết, anh H ký tên vào chỗ người vay. Các bên không ghi lãi su t trong gi y biên nhận mư n tiền nhưng có thỏa thuận miệng lãi su t là 3% tháng. ai bên thỏa thuận khi nào bà Th cần rút vốn thì báo cho anh H trước 02 ngày để anh H thu xếp trả. Bà Th đã 02 lần có thông báo bằng văn bản vào các ngày 10 5 2018 và 14 5 2018 gửi cho anh H để yêu cầu anh H trả n trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày 10 5 2018. Tuy nhiên, đến nay anh vẫn không trả n cho bà Th b t kỳ khoản gốc và lãi nào. Tại đơn khởi kiện ngày 21/5/2018, bà Th yêu cầu anh Đặng Minh H phải trả số tiền 60.000.000 đ ng anh H đã vay của bà Th và phải trả tiền lãi su t với mức 1,65%/tháng tính từ ngày 07 12 2013 cho đến khi giải quyết xong vụ án, tạm tính đến ngày 21 5 2018 số tiền lãi là 52.932.000 đ ng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Th yêu cầu Tòa án buộc ông H phải trả lãi cho bà theo mức lãi su t pháp luật quy định kể từ ngày 07 12 2013 đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm.
Bị đơn anh Đặng Minh H trình bày:
Anh H không có quan hệ vay mư n tiền gì với bà Th. Gi y mư n tiền mặt đề ngày 07 12 2013 anh không hề biết vì sao bà Th có, anh H nhớ khoảng thời gian này bà Th có đến nhà anh H bàn bạc gì với mẹ anh H là bà Đinh Thị Ng. Sau một h i bàn bạc thì bà Th gọi anh H vào (lúc đó anh H đang tắm gà đá bên ngoài) kêu anh H ký vào gi y mư n tiền mặt này. Anh H có thắc mắc vì sao phải ký vào gi y này thì bà Th nói “em chỉ ký vào với tư cách là làm chứng, còn người vay tiền là ba mẹ em mà ba mẹ đã ký vào rồi không sao đâu”. Anh H có hỏi vì sao ghi tên anh là người vay mư n thì bà Th nói “không sao đâu em đã có ba mẹ ký vào rồi, em chỉ ký cho có lệ thôi chứ không sao cả”. Anh H có hỏi bà Ng thì bà Ng c ng giải là thích là ký làm chứng thôi nên anh H mới ký tên vào gi y mư n tiền này. Anh H xác định số tiền 60.000.000 đ ng mà bà Th khởi kiện anh H là do cha mẹ anh H là bà Đinh Thị Ng, ông Đặng Văn (đã chết) vay mư n của bà Th chứ không phải anh, hơn nữa số tiền này thì cha mẹ anh đã trả hết không còn n bà Th nữa.
Nay bà Th yêu cầu anh H phải trả n như trên thì anh H không đ ng ý vì anh không vay mư n tiền của bà Th.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Đinh Thị Ng trình bày:
Anh H là con ruột của bà Ng, bà Th là người bà Ng quen biết trong việc đi thưa kiện vụ bà S, bà Ng và bà Th đều bị bà S gạt tiền. Ngu n gốc của gi y biên nhận tiền mặt đề ngày 07 12 2013 là do trước đây bà Ng có mư n tiền của bà Th, số tiền bà Ng mư n của bà Th là hơn 60.000.000 đ ng nhưng không hiểu vì sao trên gi y biên nhận này chỉ ghi có 60.000.000 đ ng. Khi đó ch ng bà là ông Đặng Văn (đã chết) ghi gi y n này nhưng bà Th coi xong kêu H vô (lúc đó H đang tắm gà đá) ký tên làm chứng, bà Ng c ng không biết lý do vì sao H lại ký vào chỗ người mư n. Sự thật số tiền theo gi y biên nhận n ngày 07 12 2013 là do bà Ng mư n, không phải do anh H mư n. Số tiền n trên gi y mư n tiền mặt đề ngày 07/12 2013 ghi là 60.000.000 đ ng nhưng cụ thể là mư n bao nhiêu tiền và mư n ngày tháng năm nào bà Ng c ng không nhớ chính xác, lãi su t thỏa thuận miệng là 3% tháng, về thời hạn trả n thì khi nào bà Th cần tiền thì báo bà Ng trước 1 tuần. Đ ng thời, ngoài lần mư n n này bà Ng còn mư n của bà Th số tiền nữa là 50.000.000 đ ng và 02 khoản tiền này bà Th khởi kiện bà Ng đã đư c thẩm phán Nguyễn Văn V của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước đang thụ lý giải quyết. Tuy nhiên hai khoản tiền này bà Ng đã trả hết cho bà Th không nhưng không nhớ cụ thể là trả bao nhiêu gốc, bao nhiêu lãi vì thời gian đã quá lâu. Lý do hiện nay bà Th vẫn còn giữ gi y n là do bà Th nói quên mang gi y n theo từ từ sẽ đưa cho bà Ng, vì bà Ng tin bà Th nên không l y gi y n lại, bà Ng không ngờ bà Th lại mang các gi y n này làm chứng cứ để kiện mẹ con bà Ng. Trên gi y này có chữ ký của ông H là do bà Th yêu cầu phải có hai v ch ng ký tên thì bà Th mới đ ng ý cho mư n nhưng thực tế ông H không liên quan gì đến khoản n này.
Nay bà Th yêu cầu anh H phải trả số tiền 60.000.000 đ ng và lãi su t thì bà Ng không đ ng ý vì anh H không n tiền, số tiền này là do bà Ng mư n của bà Th và bà Ng đã trả hết cho bà Th.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Kiều D: Chị D không có ý kiến trình bày do trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập h p lệ nhưng chị D vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2018/DS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước quyết định:
Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Th. Buộc anh Đặng Minh H phải trả cho bà Nguyễn Ngọc Th số tiền 60.000.000 đ ng n gốc và 2.865.000 đ ng tiền n lãi. Không ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Th về việc buộc anh Đặng Minh H phải trả cho bà Th số tiền lãi tương ứng 56.007.000 đ ng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 26/11/2018, bị đơn anh Đặng Minh có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm không ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng anh không vay mư n tiền của bà Th.
Ngày 06/12/2018, bà Th có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm buộc ông H phải trả tiền lãi cho bà kể từ ngày vay cho đến ngày Tòa xét xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bên đương sự giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, ội đ ng xét xử và của các đương sự: Kể từ ngày thụ lý vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký, ội đ ng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị ội đ ng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không ch p nhận kháng cáo của bà Th và anh H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2018/DS-ST ngày 21 11 2018 của Tòa án nhân dân huyện C.
NHẬN ĐỊNCH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đư c xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ội đ ng xét xử nhận định:
1 ét kháng cáo của bị đơn anh Đặng Minh H về việc anh cho rằng anh không vay mư n của bà Th số tiền 60.000.000 đ ng nhưng Tòa án c p sơ thẩm lại buộc anh phải trả bà Th số tiền này cùng tiền lãi su t là không đúng. Đ ng thời, xét kháng cáo của bà Th về việc bà yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm buộc anh H phải trả cho bà tiền lãi su t từ ngày vay cho đến ngày Tòa án xét xử, ội đ ng xét xử nhận th y:
[1.1] Về số tiền n gốc: Anh H cho rằng anh không vay số tiền 60.000.000 đ ng của bà Th, tuy nhiên theo “Gi y vay mư n tiền mặt” do các bên lập ngày 07 12 2013 thể hiện nội dung: “Hôm nay ngày 07/12/2013. Tôi: Đặng Minh H, sinh 1982…..có mượn số tiền 60.000.000 đồng (sáu chục triệu đồng) của bà Nguyễn Ngọc Th…..Lý do: Tu bổ Phòng Nét siêu tốc. Khi nào chị Th cần rút vốn báo trước cho tôi hai ngày để tôi lo trả nợ số tiền đã mượn trên” (bút lục 02, 51). Ngoài ra, Anh H cho rằng số tiền trên là do cha mẹ của anh là bà Đinh Thị Ng và ông Đặng Văn (đã chết) vay của bà Th, khi vay tiền cha anh là người viết gi y vay mư n sau đó mẹ anh và bà Th bảo anh ký vào với tư cách người làm chứng nên anh tin tưởng ký vào gi y chứ không nhận và sử dụng tiền của bà Th. ội đ ng xét xử th y rằng lời trình bày của anh H là mâu thuẫn. Bởi lẽ, tại phiên tòa anh H thừa nhận chữ ký và chữ viết tên Đặng Minh H phía dưới mục “Người mư n” là chữ của anh còn chữ ký và chữ viết tên Đinh Thị Ng, Đặng Văn dưới mục “ ác nhận” là của cha mẹ anh, anh H cho rằng anh chỉ là người làm chứng nhưng không lý giải đư c tại sao anh lại ký vào mục “Người mư n” trong khi bà Th khẳng định anh H là người vay tiền là phù h p với nội dung gi y vay mư n tiền mà các bên đã lập. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm xác định anh là người vay của bà Th số tiền 60.000.000 đ ng như bà Th trình bày là có căn cứ.
Xét trình bày của bị đơn anh H và người có quyền l i nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Ng về việc anh H và bà Ng cho rằng số tiền 60.000.000 đ ng bà Th đang kiện đòi anh H hiện nay bà Th c ng đang kiện đòi bà Ng phải trả, vụ án đang đư c Tòa án huyện C thụ lý giải quyết. ội đ ng xét xử th y rằng, theo các tài liệu, chứng cứ đư c trích lục từ h sơ vụ án “Tranh ch p p đ ng vay tài sản” thụ lý số 06 TLST-DS ngày 05/01/2018 mà Tòa án nhân dân huyện C đang thụ lý giải quyết giữa bà Th và bà Ng thể hiện (từ bút lục 58 đến 81) thì h sơ vụ án này thụ lý giải quyết đối với yêu cầu của bà Th về việc bà Th yêu cầu bà Ng, ông H phải trả số tiền 50.000.000 đ ng theo Biên nhận vay tiền ngày 27 5 2011 giữa bà Th với bà Ng, ông H chứ không phải khoản vay 60.000.000 đ ng ngày 07 12 2013 giữa bà Th và anh H trên. Anh H và bà Ng không cung c p đư c chứng cứ chứng minh khoản vay 60.000.000 đ ng ngày 07 12 2013 là do bà Ng vay chứ không phải anh H vay của bà Th. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Th, buộc anh có trách nhiệm trả bà Th số tiền gốc 60.000.000 đ ng là có căn cứ nên kháng cáo của anh H về khoản tiền gốc là không có cơ sở ch p nhận.
1.2 Về tiền lãi: ét th y, tại “Gi y vay mư n tiền mặt” không thể hiện lãi su t, nhưng tại Tòa nguyên đơn bà Th, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan bà Ng đều khẳng định vào ngày 07 12 2013 khi giao dịch vay mư n tiền các bên thỏa thuận lãi su t là 3% tháng. Mặc dù anh H không đ ng ý nghĩa vụ trả n nhưng tại Bản tự khai ngày 08 6 2018 anh c ng xác định vào ngày 07 12 2013 cha mẹ anh “mượn của bà Th 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) với lãi suất 3%/tháng” (bút lục 37). Do đó, ội đ ng xét xử có căn cứ xác định giao dịch vay tiền ngày 07 12 2013 giữa các bên là có lãi su t. Tại Tòa các bên c ng xác định khi vay tiền hai bên không thỏa thuận thời hạn trả n mà chỉ thỏa thuận khi nào bà Th cần l y lại tiền thì bà Th sẽ báo trước 02 ngày, vì vậy giao dịch vay tài sản giữa các bên đư c xác định là h p đ ng vay không kỳ hạn và có lãi su t.
Tại đơn khởi kiện, bà Th yêu cầu anh H phải có trách nhiệm trả cho bà tiền lãi su t của số tiền 60.000.000 đ ng từ ngày vay tiền 07 12 2013 đến ngày kết thúc xét xử vụ án tại Tòa án các c p với mức 1,65% tháng. Nhưng, tại phiên tòa hôm nay bà Th thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó bà yêu cầu Tòa án buộc anh H phải trả cho bà tiền lãi su t theo mức mà pháp luật quy định cho bà đư c hưởng tính từ ngày 07/12/2013 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
ội đ ng xét xử xét th y: Vào thời điểm các bên ký kết h p đ ng vay tài sản thì Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản hướng dẫn bộ luật này đang có hiệu lực thi hành. Điểm a khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11”. Do quy định về lãi su t của Bộ luật dân sự năm 2015 và Bộ luật dân sự số 33 2005 Q 11 (tức Bộ luật dân sự năm 2005) khác nhau, mức lãi su t mà các bên thỏa thuận c ng không phù h p pháp luật, tại phiên tòa nguyên đơn bà Th c ng yêu cầu ông H phải trả mức lãi su t mà pháp luật quy định. Do đó, việc áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản quy định chi tiết bộ luật này để tính lãi su t là phù h p. Tuy nhiên, do bà Th thì cho rằng hai bên có thỏa thuận lãi su t là 3%/tháng còn anh H thì không thừa nhận việc anh vay tiền, không đ ng ý trả n gốc c ng như tiền lãi nên thuộc trường h p các bên có tranh ch p về lãi su t. Theo quy định tại khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Lãi su t cơ bản vào thời điểm các bên giao dịch vay tài sản là 9% năm - tương ứng 0,75% tháng (Theo Quyết định số 2868 QĐ-N NN ngày 29 11 2010 của Thống đốc ngân hàng nhà nước quy định về mức lãi su t cơ bản bằng đ ng Việt Nam).
Tại phiên tòa, bà Th và anh H đều xác nhận vào các ngày 10/5/2018 và ngày 14/5/2018 bà Th đã gửi cho anh H 02 thông báo yêu cầu anh phải trả n cho bà Th trong thời hạn 02 ngày từ ngày 10 5 2018 đến ngày 12/5/2018. Vì vậy, tiền lãi su t cần buộc anh phải trả bà Th trong thời gian từ ngày 07 12 2013 đến ngày 12/5/2018 đư c xác định bằng:
60.000.000đ ng x 0,75%/tháng x 53 tháng 08 ngày = 23.970.000đ ng.
Do đến nay anh H vẫn chưa trả n cho bà Th theo các thông báo yêu cầu trả n trên, theo quy định tại khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ” nên anh phải có nghĩa vụ trả bà Th tiền lãi chậm trả từ ngày 13 5 2018 đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm (21/11/2018) là:
60.000.000đ ng x 0,75%/tháng x 06 tháng 08 ngày = 2.820.000đ ng.
Như vậy, anh H phải có trách nhiệm trả cho bà Th số tiền 60.000.000đ ng n gốc và 26.790.000đ ng lãi, tổng cộng 86.790.000đ ng.
Do đó, kháng cáo của bà Th về phần lãi su t là có cơ sở đư c ội đ ng xét xử ch p nhận. Cần sửa một phần Bản án sơ thẩm số 21/2018/DS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước về phần lãi su t.
2 Về trách nhiệm liên đới của chị Nguyễn Kiều D: ét chị D và anh H có quan hệ là v ch ng nhưng bà Th không yêu cầu Tòa án xem xét về trách nhiệm liên đới của chị D đối với nghĩa vụ trả n cho bà Th, cả anh H và chị D c ng đều không có ý kiến gì về việc này. Do đó, ội đ ng xét xử không xem xét về trách nhiệm liên đới của chị D. Tuy nhiên, xét th y Tòa án c p sơ thẩm không nhận định phần này trong bản án là có thiếu sót, song c p phúc thẩm th y đây không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và l i ích h p pháp của đương sự và do c p phúc thẩm đã bổ sung đư c nên th y cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng bổ sung phần này vào bản án phúc thẩm là phù h p.
[3 Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Th đư c ch p nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Ông H phải chịu: 86.790.000đ ng x 5% = 4.339.500đ ng. Việc Tòa án c p sơ thẩm chỉ ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc nguyên đơn bà Th phải chịu 2.800.350đ ng án phí đối với yêu cầu không đư c ch p nhận và buộc anh H phải chịu 3.143.250đ ng là chưa chính xác. Cần sửa một phần Bản án sơ thẩm về phần án phí cho phù h p.
4 Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà Th đư c ội đ ng xét xử ch p nhận nên bà Th không phải chịu; kháng cáo của ông H không đư c ội đ ng xét xử ch p nhận nên ông H phải chịu 300.000 đ ng.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là có căn cứ một phần nên đư c ội đ ng xét xử ch p nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Th
Không ch p nhận kháng cáo của bị đơn anh Đặng Minh H.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2018/DS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước.
Căn cứ vào Điều 149, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 471, 474, 476, 477 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ Nghị quyết số 326 2016 UBTVQ 14 ngày 30 12 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc ội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án;
Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Th.
Buộc bị đơn anh Đặng Minh phải trả cho bà Nguyễn Ngọc Th số tiền 60.000.000đ ng n gốc và 26.790.000đ ng lãi, tổng cộng 86.790.000đ ng (tám mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi nghìn đ ng).
Không xem xét về trách nhiệm liên đới trả n của chị Nguyễn Kiều D do các đương sự không yêu cầu.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc Th không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho bà Th số tiền 2.823.300 đ ng (hai triệu tám trăm hai mươi ba nghìn ba trăm đ ng) tạm ứng án phí bà Th đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009417 ngày 29/5/2018; Anh Đặng Minh phải chịu 4.339.500đ ng (bốn triệu ba trăm ba mươi chín nghìn năm trăm đ ng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Ngọc Th không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho bà Th số tiền 300.000 đ ng (ba trăm nghìn đ ng) tạm ứng án phí bà Th đã hộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 009750 ngày 10/12/2018.
Anh H phải chịu 300.000 đ ng (ba trăm nghìn đ ng), đư c kh u trừ vào số tiền 300.000 đ ng (ba trăm nghìn đ ng) tạm ứng án phí anh H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009715 ngày 27 11 2018.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền) nếu bên phải thi hành chậm thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - TAND huyện C; - Chi cục T ADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu: VT, TDS, h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Th Q Chi |