vanban.org

Bản án 15/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 07/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đà o Công Th phạm tội “Tiêu thụ tà i sả n do ngườ i khá c phạm tội mà có”.

Áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 250; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điề u 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Điề u 136; Điề u 329 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Xử phạt: Đà o Công Th 24 (Hai mươi bố n) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Công Th - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đà o Công Th phạm tội “Tiêu thụ tà i sả n do ngườ i khá c phạm tội mà có”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN THÀNH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HSST
Ngày: 07/02/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễ n Đì nh Quế .

Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Vũ .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Ông Nguyễ n Toán Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 07/02/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành , tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2017/HSST ngày 10/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/HSST- QĐ ngày 24/01/2018 đối với:

Bị cáo: Đà o Công Th (tên gọ i khá c: B), sinh năm 1991.

Nơi cư trú : Thôn I, xã S, huyệ n Gia B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn : 11/12; Dân tộ c: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quố c tịch: Việ t Nam; Con ông Đà o Công S và bà Hoà ng Thị M; Vợ : Đỗ Phương A và có 02 con.

Tiền sự: Không.

Tiề n á n:

- Tại Bản án số 32 ngày 24/4/2013 của TAND huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh xử phạ t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tại Bản án số 01 ngày 27/01/2015 của TAND huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh xử phạ t 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

. Ra trạ i ngà y 31/12/2016.

Bị cáo bị bắ t tạm giam từ ngày 28/11/2017 đến nay. Hiện đang tạ m giam tạ i Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Dương Thị N, sinh năm 1989. Đị a chỉ : Thôn Đạ i Trạ ch, xã Đình Tổ , huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc Ninh. (Xin vắ ng mặ t)

NỘ I DUNG CỦ A VỤ Á N

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 17/6/2017, Đỗ Kim H, sinh năm 1989 và Nguyễ n Đắ c B, sinh năm 1982 cùng trú tại : Thôn H, xã G, huyệ n Gia B, tỉnh Bắc Ninh gặp nhau ở thôn Hữu Ái rồi rủ nhau đi đến huyện Thuận Thành để trôm cắp tài sản . B điề u khiể n xe môtô BKS 99H1- 22251 chở H đi đế n gầ n cầ u Trầ m thuộ c khu cá nh đồ ng thôn Đạ i Trạ ch, xã Đình Tổ , huyệ n Thuậ n Thà nh, thì thấy có 01 xe Yamaha, loại xe Exciter, BKS 29V1- 3079 của chị Dương Thị N đang dự ng ở lề đườ ng nhưng không có ngườ i trông giữ . B đi xe đế n gầ n chiế c xe củ a chị N, rồ i H xuố ng xe đi dế n dù ng vam phá khó a điệ n và nổ má y chiế c xe củ a chị N phóng đi , B cũng phóng xe đi theo H về khu cá nh đồ ng xã Song Giang, huyệ n Gia B tháo biển số xe vứ t xuố ng sông gầ n đó . Sau đó H gọi điện cho Đà o Công Th hỏi Th có mua xe không và hẹ n gặ p nhau ở khu N ghĩa địa thôn Ích Phú để xem xe . Khi gặ p nhau, H và B cho Th xem chiế c xe đã trộ m cắ p củ a chị N thì Th thấ y xe không có giấ y tờ , không có BKS và ổ khó a điệ n bị hỏ ng nên Th biế t rõ đây là chiế c xe do trộ m cắ p mà có. Sau đó B giao chiế c x echo Th đi thử rồ i Th đồ ng ý mua và thỏ a thuậ n trả giá chiếc xe là 3.000.000đ, H đồ ng ý bá n cho Th. Tuy nhiên , lúc này Th không mang theo tiề n nên Th đã đi về nhà lấ y tiề n rồ i đi ra trả tiề n mua xe nhưng Th chỉ trả H 2.900.000đ. Số tiề n nà y H chia cho B 1.400.000đ, số tiề n cò n lạ i H ăn tiêu cá nhân hế t.

Đế n ngà y 05/7/2017 khi biế t xe đã mua củ a H là tang vật của vụ án nên Th đã giao nộ p chiế c xe cho Công an huyệ n Gia B.

Ngày 03/9/2017 Công an huyệ n Gia B đã bà n giao chiế c xe trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Thuậ n Thà nh và cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị N.

Đế n ngà y 28/11/2017, Th bị Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Thuậ n Thà nh bắ t giữ .

Tại kết luận định giá tài sản số 25 ngày 28/8/2017 của Hội đồng định giá UBND huyệ n Thuậ n Thà nh kế t luậ n : 01 chiế c xe môtô nhã n hiệ u Yamaha, loại xe Exciter, BKS 29V1- 3079 có giá trị là 13.000.000đ.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 07/Ctr - VKS, ngày 09/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh truy tố Đà o Công Th về tội “Tiêu thụ tà i sả n do ngườ i khá c phạ m tộ i mà có ” theo quy định tại điể m đ khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đồng ý với kết quả định giá giá trị chiế c xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter , BKS 29V1- 3079 mà bị cáo đã mua của H như kết luận của Hội đồng định giá. Bị cáo nhận thức rõ và thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại là chị Dương Thị N xin vắng mặt tại phiên toà. Tại Cơ quan điều tra chị N trình bày: Ngày 17/6/2017 tại khu cá nh đồ ng thôn Đạ i Trạ ch , xã ĐìnhTổ chị bị kẻ gian trộ m cắ p chiế c xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter , BKS 29V1- 3079. Đế n ngà y 03/9/2017 Cơ quan điề u tra đã trả lạ i chiế c x echo chị . Chị đã nhậ n lạ i tà i sả n và không yêu cầ u cá c bị cá o phả i bồ i thườ ng gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành sau khi phân tích, đánh giá tính chất, nguyên nhân, động cơ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tộ i danh như Cá o trạ ng đã truy tố và đề nghị áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 250; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điề u 33 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đà o Công Th từ 24 đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết do bị hạ i không yêu cầ u.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cá c bị cá o.

NHẬ N ĐỊ NH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n, căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụ ng tạ i phiên tòa, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, cùng thời gian, địa điểm phạm tội cũng như lời khai của người bị hại. Đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 17/6/2017 Đà o Công Th dù biết chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter , BKS 29V1- 3079 là tài sản do H và B trộ m cắ p mà có nhưng vẫ n mua vớ i giá 2.900.000đ. Chiế c xe nà y có giá trị theo kế t luậ n củ a

Hội đồ ng đị nh giá là 13.000.000đ. Bản thân bị cáo đã thuộc trường hợp tái phạm, chưa đượ c xó a á n tí ch nay lạ i phạ m tộ i do cố ý nên đượ c coi là tá i phạ m nguy hiể m

. Do vậ y Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố bị cáo về tội “Tiêu thụ tà i sả n do ngườ i khá c phạ m tộ i mà có ” quy định tại điể m đ khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sở hữu riêng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy phải đưa ra xét xử kịp thời để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có 02 tiề n á n: Tại Bản án số 32 ngày 24/4/2013 của TAND huyệ n Gia B, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” . Tại Bản án số 01 ngày 27/01/2015 của TAND huyện Gia B, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t úy”. Ra trạ i ngà y 31/12/2016 đến nay chưa đượ c xó a á n tí ch nên đượ c coi là tá i phạ m nguy hiể m

, đây là tì nh tiế t đị nh khung tăng nặ ng trá ch nhiệ m hình sự . Điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo, do vậ y cầ n phả i có hì nh phạ t nghiêm khắ c , cách ly bị cáo ra khỏi đờ i số ng xã hộ i mộ t thờ i gian để giá o dụ c cả i tạ o bị cá o thà nh công dân tố t cho xã hộ i.

Tuy nhiên trước cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạ m tộ i , bị cáo đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điề u tra chiế c xe môtô mà bị cáo tiêu thụ là tài sản do người khác phạm tội mà có . Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự nên khi lượ ng hì nh cầ n á p dụ ng để xem xé t giả m nhẹ mộ t phầ n hì nh phạ t cho bị cá o để thể hiệ n sự khoan hồ ng củ a pháp luật.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Do tài sản đã được Cơ quan điều tra thu hồi và trả lại cho bị hại, phía bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm do vậy không đặ t ra xem xé t giả i quyế t.

Đối với Đỗ Kim H và Nguyễ n Đắ c B là đối tượ ng có hà nh vi trộ m cắ p chiế c xe củ a Chị Dương Thị N. Các đối tượng này đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuậ n Thà nh truy tố theo Cá o trạ ng số 83 ngày 17/11/2017, do vậ y không đặ t ra xem xé t trong vụ á n nà y.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đà o Công Th phạm tội “Tiêu thụ tà i sả n do ngườ i khá c phạm tội mà có”.

Áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 250; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điề u 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Điề u 136; Điề u 329 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH:

Xử phạt: Đà o Công Th 24 (Hai mươi bố n) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y 28/11/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghì n đồ ng) án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặ c niêm yế t bả n á n. Nơi nhậ n:

Cỡ chữ