vanban.org

Bản án 15/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 04/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T Phong phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thành P 02 điện thoại di động. Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều ngày 09/02/2018. Buộc bị cáo Nguyễn Thành P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn T Phong phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HS-ST
Ngày 14-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Thắng;

Bà Phạm Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 th¸ng 3 n¨m 2018, t¹i Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2017/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành P, tên gọi khác: Không, sinh ngày 11/02/1994 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: Thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lái xe tắc xi; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị M, chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị bắt ngày 31/12/2017 (Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều), có mặt.

Người chứng kiến:

Ông Lê Trường S, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Khu Y2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

Ông Lê Quang V, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Khu T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy dạng thuốc lắc, nên khoảng 13 giờ ngày 31/12/2017, khi đang đợi đón khách đi xe tắc xi tại khu vực ngã ba Mạo Khê thuộc khu Vĩnh Thông, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thành P gặp và thỏa thuận rồi đưa cho một người đàn ông không quen biết 1.600.000đ để nhờ mua hộ 04 (Bốn) viên ma túy với giá 400.000đ/viên. Người đàn ông này cầm tiền đi khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho Phong 01 (Một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa 04 (Bốn) viên nén hình trụ tròn màu xanh, trên mặt có in nổi hình vương miện. P kiểm tra thấy đúng là ma túy, nên cầm và đi ra ô tô tắc xi nhãn hiệu Huyndai biển kiểm soát 14A-072.45 điều khiển về hướng thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi Phong điều khiển xe ô tô đi đến khu vực Yên Lâm 2, phường Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an thị xã Đông Triều kiểm tra phát hiện thu giữ trong tay trái của P 01 (Một) túi nilon bên trong có 04 (Bốn) viên nén hình trụ tròn mầu xanh.

Tại bản kết luận giám định số 60/GĐMT ngày 03/01/2018, của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy; Loại: MDMA; Tổng khối lượng 1,278gam (Một phẩy hai bảy tám gam).

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS-ĐT ngày 09/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Thành Phong về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã tuy tố; đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Thành Phong về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, với mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 31/12/2017; đề nghị miễm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị trả lại bị cáo 02 điện thoại di động theo các điểm b khoản 1 Điều 46 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, nên không tranh luận, có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo Nguyễn Thành P khai nhận vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 31/12/2017, tại khu Yên Lâm 2, phường Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, đã có hành vi tàng trữ trái phép 04 (Bốn) viên nén là chất ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,278gam (Một phẩy hai bảy tám gam), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ông Lê Trường S và ông Lê Quang V là những người có mặt khi P bị bắt giữ và là những người chứng kiến sự việc Công an thị xã Đông Triều lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 30 phút ngày 31/12/2017 và biên bản niêm phong vật chứng lập hồi 16 giờ 35 phút cùng ngày. Ngoài ra còn phù hợp với Kết luận giám định số: 60/GĐMT ngày 03/01/2018, của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy; Loại: MDMA; Tổng khối lượng 1,278gam (Một phẩy hai bảy tám gam).

Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS-ĐT ngày 09/02/2018, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố đối với bị cáo và các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, gây nguy hại đến sức khỏe, đời sống của con người, tác động trực tiếp đến thần kinh, gây ảo giác, hoang tưởng cho người sử dụng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử phạt với một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét nhân thân của bị cáo cho thấy: Bị cáo là người trưởng thành có nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật, nhưng không tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến nghiện chất ma túy mà đã thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cho nên, áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Mặc dù đã được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhưng phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng, các vấn đề khác và án phí:

Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 02 điện thoại di động, là tài sản của bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

Liên quan trong vụ án còn người đàn ông mua ma túy hộ cho P, nhưng quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe ô tô tắc xi nhãn hiệu Huyndai biển kiểm soát 14A-072.45, Cơ quan điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị M, nên tại giai đoạn điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 21/QĐ ngày 18/01/2018, trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị M. Bà M đã nhận lại chiếc xe ô tô và giấy đăng ký xe, không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T Phong phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 31/12/2017.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thành P 02 điện thoại di động. Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều ngày 09/02/2018.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ