vanban.org

Bản án 15/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 15/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, được trừ 03 tháng bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành hình phạt tù. Xử phạt bị cáo Lò Văn Ch 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, được trừ 03 tháng bị tạm giữ, t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lò Văn Ch, Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HS-ST
Ngày 15 tháng 3 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cheo An Ngải và Ông Lê Văn Hà

Thư ký phiên tòa: Ông Chảo Hò Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Tẩn Lưu Ngan- Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn H; sinh năm: 1969; nơi sinh: huyện SH, tỉnh LC; nơi cư trú: bản PN, xã NH, huyện SH, tỉnh LC; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: T; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lò Văn T và bà Lò Thị P; có vợ thứ nhất là Lò Thị P (đã chết), vợ thứ hai là Vì Thị P (sinh năm: 1969) và 02 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1997); tiền án: không; tiền sự: không;nhân thân: Năm 1990 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 11 năm 2017, tạm giam từ ngày 06 tháng 12 năm 2017 đến ngày 27 tháng 02 năm 2018 bị cáo được tại ngoại; có mặt.

2. Lò Văn Ch; sinh năm: 1974; nơi sinh: huyện SH, tỉnh LC; nơi cư trú: bản TP, xã NH, huyện SH, tỉnh LC; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: T; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lò Văn P và bà Lò Thị A; có vợ là Lò Thị V (tên gọi khác: Lò Thị B – sinh năm: 1979) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2006); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 11 năm 2017; tạm giam từ ngày 06 tháng 12 năm 2017 đến ngày 27 tháng 02 năm 2018 bị cáo được tại ngoại; có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vì Thị P; sinh năm: 1969; trú tại: bản PN, xã NH, huyện SH, tỉnh LC; có mặt.

Người phiên dịch: Bà Lường Thị H; sinh năm: 1990; trú tại: b P SL 1, xã PSL, huyện SH, tỉnh LC; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 30 tháng 11 năm 2017 Lò Văn H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu đỏ, đen, không có biển kiểm soát của gia đình bị cáo đi đến xã PKh để thăm cháu. Khoảng 11 giờ cùng ngày H đi về nhà. Khi H đi được khoảng 01 km thì gặp Lò Văn Ch đang đi bộ về vẫy xe nên H dừng lại cho Ch đi cùng. Do tay lái yếu nên H để Ch điều khiển xe còn H ngồi sau. Khi hai người về đến khu vực nghĩa địa của bản Ph Ph, xã P Kh thì H nhìn thấy một túi bơm, kim tiêm, phát hiện bên trong có gì đó nên H bảo Ch dừng xe lại. Sau khi dừng xe, cả hai người đến chỗ có túi bơm, kim tiêm, H nhặt lên để H và Ch cùng kiểm tra thì thấy bên trong có 02 gói chất bột khô vón cục màu trắng được gói ngoài bằng nilon màu hồng. Biết đó là Hê rô in nên cả hai cùng thống nhất cùng mang về để sử dụng chung. H ngồi sau cầm hai gói Hê rô in (Heroine) còn Ch tiếp tục điều khiển xe chở H về. Vào hồi 11 giờ 30 phút, khi hai người đi đến Km 04 + 300 đường liên xã P Kh – NH thì Tổ công tác Công an huyện S H làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra, Lò Văn H đã tự giác giao nộp số Hê rô in cho Tổ công tác.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng và trích mẫu giám định của Công an huyện SH, tỉnh LC vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 01 tháng 12 năm 2017 xác định: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn H, Lò Văn Ch thì: Gói thứ nhất ký hiệu M1 có trọng lượng 0,13 gam; gói thứ hai ký hiệm M2 có trọng lượng 0,12 gam; Tổng trọng lượng của M1 và M2 là 0,25 gam; lấy toàn bộ 0,25 gam chất bột màu trắng này làm mẫu vật gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 42/GĐ-KTHS, ngày 19 tháng 2 năm 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC kết luận: mẫu vật thu giữ của Lò Văn H, Lò Văn Ch có trọng lượng là 0,25 gam (không tính bao bì), là Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 26 tháng 02 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện S H, tỉnh LC đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện S H, tỉnh LC để xét xử các bị can Lò Văn H, Lò Văn Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện SH, tỉnh LC đã truy tố; không oan, không sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, 58, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự; xử phạt mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 11 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại Km 04 + 300 đường liên xã P Kh – NH, huyện SH, tỉnh LC, Lò Văn H và Lò Văn Ch đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,25 gam Hê rô in với mục đích để cùng nhau sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do vậy, các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp lý và phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với nhân thân của các bị cáo, nên được chấp nhận.

Hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tội phạm về ma túy gia tăng, gián tiếp làm gia tăng các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện SH, tỉnh LC; là một trong những nguyên nhân hủy hoại hạnh phúc của nhiều gia đình, hủy hoại sức khỏe, suy kiệt về kinh tế của người sử dụng và gia đình, tạo nhiều gánh nặng cho xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, vì không chịu rèn luyện, giữ gìn đạo đức của người công dân, ham thích cảm giác khoái lạc do việc sử dụng chất ma túy mang lại mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, ở mức độ giản đơn, nhưng cũng cần áp dụng các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với vai trò, vị trí của từng bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo là người có nhân thân không tốt. Nên cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức Cơ quan Điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 (Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội) thì: Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14. Nên các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, các bị cáo bị xử phạt tù từ 02 đến 07 năm; Theo quy địnhkhoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì hình phạt đối với các bị cáo các bị cáo là từ 01 đến 05 năm là nhẹ hơn so với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định này.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn Ch có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản. Các bị cáo không lao động trong các ngành, nghề hoặc công việc cần phải cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hành nghề. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án là 0,25 gam Hêrôin thu giữ của các bị cáo đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện SH, tỉnh LC gửi đi giám định. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý; đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh, đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu vàng, đen và 4.587.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện SH, tỉnh LC đã trả lại cho gia đình các bị cáo; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu đỏ, đen, không có biển kiểm soát là tài sản chung của gia đình bị cáo Lò Văn H, khi bị cáo sử dụng xe và nhặt được, tàng trữ trái phép chất ma túy thì những người khác trong gia đình bị cáo không ai biết. Cần áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để trả lại chiếc xe mô tô trên cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vì Thị P (là vợ của bị cáo H).

Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về nguồn gốc Hêrôin thu giữ của bị cáo và trách nhiệm của người có liên quan: Theo lời khai của các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn Ch thì 0,25 gam Hê rô in các bị cáo tàng trữ là do nhặt được ở vệ đường tại nghĩa địa bản Ph Ph, xã P Kh, huyện SH, tỉnh LC, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện SH không có căn cứ để xác minh, điều tra.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội

Tuyên bố: các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, được trừ 03 tháng bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành hình phạt tù.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Ch 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, được trừ 03 tháng bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành hình phạt tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vì Thị P chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu đỏ, đen, không có biển kiểm soát.

Án phí sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 15 tháng 3 năm 2018).

Cỡ chữ