vanban.org

Bản án 15/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 19/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Bé B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lưu Bé B 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/8/2018. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự Buộc bị cáo Lưu Bé B bồi thường thiệt hại cho bị hại Sơn V 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LƯU BÉ B - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Bé B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HS-ST.
Ngày: 19 – 10 - 2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thuận;

Ông Huỳnh Quyết Chiến;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dƣơng Hồng Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Lƣu Bé B; sinh năm 1981; tại tỉnh Sóc Trăng.

Nơi cư trú: Ấp L, thị trấn X, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T; sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1955; có vợ Thạch Thị Sà M và có 05 người con, người con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ nhất 03 tuổi.

Tiền án: Vào năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm tù về Tội cố ý gây thương tích, đã chấp hành án xong vào năm 2010; theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo đương nhiên được xóa án tích.

Tiền sự: Vào 2004 bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buột C huyện D, tỉnh Sóc Trăng đã chấp hành xong năm 2006; theo quy định bị cáo được xóa tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/8/2018 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị hại: Ông Sơn V; sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

1. Người làm chứng:

1.1. Ông Phan Ngọc H; sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

1.2. Ông Thạch Pho L; sinh năm 1953; nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

1.3. Người phiên dịch: Ông Thạch Thanh T; nghề nghiệp: Cán bộ; nơi công tác: Hội cựu chiến binh huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Vào khoảng 17 giờ ngày 26/5/2018 Sơn V; sinh năm 1980; trú tại: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng cùng Lưu Bé B; sinh năm 1981; trú tại: Ấp L, thị trấn X, huyện X, tỉnh Sóc Trăng, Phan Ngọc H, Thạch Si P và Thạch V tổ chức uống rượu tại nhà ông Thạch Pho L tại ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. Trong lúc uống rượu Sơn V có kêu B lấy xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 83P2-719.07 đi mua rượu 02 lần. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày B hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 83P2-719.07 của Sơn V để đi mua thẻ cào điện thoại thì Sơn V đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe chạy về nhà tại ấp L, thị trấn X, huyện X, tỉnh Sóc Trăng để ngủ. Đến sáng ngày 27/5/2018 B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83P2-719.07 gặp người bạn tên C tại thị trấn X, cả hai cùng sử dụng chất ma túy sau đó B điều khiển xe chở C về nhà của C tại khu vực G thuộc huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng. Do không có tiền sử dụng ma túy nên B nảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2-719.07; B kêu C đem xe bán và C bán được 2.000.000 đồng, C mượn của B 1.100.000 đồng, còn 900.000 đồng B dùng vào việc mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết số tiền này. Đối với anh Sơn V đã tìm kiếm B để lấy lại xe nhưng không gặp nên trình báo cơ quan chức năng. Trong quá trình điều tra bị cáo B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 44/KL.HĐĐGTS ngày 27/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Long Phú kết luận chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2-719.07, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus, dung tích 110, màu trắng đen theo nguyên giá là 22.000.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 80% là 17.600.000 đồng.

Về vật chứng vụ án là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus màu trắng đen, biển kiểm soát 83P2-719.07 của bị hại Sơn V, bị can đã nhờ C đi bán nhưng không biết bán cho ai nên không thu giữ được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã thông báo truy tìm vật chứng đối với chiếc xe này.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản nêu trên.

Bản cáo trạng số: 15/CT-VKSLP ngày 18/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lưu Bé B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo Lưu Bé B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên.

Bị hại Sơn V đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo chưa bồi thường cho bị hại số tiền là 22.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại Sơn V yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền này.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa v n giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lưu Bé B đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 26/5/2018 trong lúc uống rượu tại nhà bị hại Sơn V, B hỏi mượn xe Sirius biển kiểm soát 83P2-719.07 của anh Sơn V để đi mua thẻ cào điện thoại thì được anh Sơn V đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe chạy về nhà ngủ, đến sáng ngày 27/5/2018 B nảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2-719.07 của anh Sơn V nên kêu người bạn tên C mang xe bán được 2.000.000 đồng tiêu sài cá nhân. Bị cáo B đã lợi dụng niềm tin của bị hại để được cho mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2-719.07, vì muốn có tiền sử dụng ma túy bất hợp pháp và tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã chiếm đoạt tài sản và trốn tránh việc tìm kiếm của bị hại. Tuy nhiên trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại số tiền 22.000.000đồng, do đó cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong lúc lượng hình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lưu Bé B phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản” áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lưu Bé B từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 22.000.000 đồng cho bị hại Sơn V. Về vật chứng: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus màu trắng đen, biển kiểm soát 83P2-719.07 của bị hại Sơn V, mà bị cáo đã nhờ người bạn tên C đi bán nhưng không biết bán cho ai nên không thu giữ được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã thông báo truy tìm vật chứng đối với chiếc xe này nên không đặt ra xem xét.

Đối với người tên C đã đem bán chiếc xe mô tô biển số 83P2.719.07, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã tiến hành xác minh nhưng không rõ lai lịch nên không tiến hành làm việc được, khi xác minh điều tra được sẽ xử lý sau là đúng quy định nên không đặt ra xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lưu Bé B: Bị cáo nhận thấy hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Long Phú, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Lưu Bé B khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 26/5/2018 trong lúc nhậu tại nhà bị hại Sơn V, B hỏi mượn xe Sirius biển kiểm soát 83P2-719.07 của anh Sơn V để đi mua thẻ cào điện thoại thì được anh Sơn V đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe chạy về nhà ngủ, đến sáng ngày 27/5/2018 B nảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2-719.07 nên kêu người bản của bị cáo tên C mang xe bán được 2.000.000 đồng tiêu sài cá nhân.

Đối với lời khai nhận tội của bị cáo nhận thấy, lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[3 Nhận định về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo:

Bị cáo B đã lợi dụng niềm tin của bị hại để được cho mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2-719.07, vì muốn có tiền sử dụng ma túy bất hợp pháp và tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách mang bán xe để lấy tiền phục vụ lợi ích cá nhân và trốn tránh việc tìm kiếm của bị hại và không có khả năng trả lại xe cho bị hại. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lổi cố ý trực tiếp với mục đích vụ lợi nên hành vi của bị cáo thực hiện đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, cáo trạng số: 15/CT-VKSLP ngày 18/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú truy tố bị cáo Lư Bé B về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ và gây bất an trong nhân dân. Do đó, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đảm bảo công tác phòng chống tội phạm tại địa phương và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

[5 Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Sơn V yêu cầu bị cáo Lưu Bé B bồi thường 22.000.000 đồng và bị cáo B thống nhất bồi thường cho bị hại số tiền này. Xét yêu cầu của bị hại và sự tự nguyện của bị cáo là không trái với quy định của pháp luật, xét đề nghị của kiểm sát viên là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Lưu Bé B bồi thường thường thiệt hại cho bị hại Sơn V số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại Sơn V có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Lưu Bé B phải trả lãi cho ông V theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

[6 Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus màu trắng đen, biển kiểm soát 83P2-719.07, bị cáo đã nhờ người bạn của bị cáo tên C mang đi bán nhưng không biết bán cho ai nên không thu giữ được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã thông báo truy tìm vật chứng đối với chiếc xe này là đúng quy định nên không đặt ra xem xét.

[7 Xét về vai trò đồng phạm:

Đối với người tên C đã đem bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83P2.719.07, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã tiến hành xác minh nhưng không rõ lai lịch nên không tiến hành làm việc được, khi xác minh điều tra được sẽ xử lý sau là đúng quy định nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lưu Bé B là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lưu Bé B.

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Bé B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lưu Bé B 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/8/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự Buộc bị cáo Lưu Bé B bồi thường thiệt hại cho bị hại Sơn V 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại Sơn V có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Lưu Bé B phải trả lãi cho ông V theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về án phí và lệ phí Tòa án”. Bị cáo Lưu Bé B phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ