vanban.org

Bản án 15/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 13/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè: BÞ c¸o Đặng Văn L ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xö ph¹t bị cáo Đặng Văn L 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 15/12/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ c¸o Đặng Văn L ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HS-ST
Ngày: 13-3-2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Ngọc Phức

2. Bà Phạm Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Đặng Văn L sinh ngày 07/09/1974; nơi sinh: huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M và bà Đặng Thị M; vợ Đỗ Thị Thùy D(Duyên) và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học hết lớp 9/12, sau đó nghỉ học ở nhà lao động tự do; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2017, đến ngày 18/12/2017 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Những người làm chứng:

1. Anh Trần Xuân H, sinh năm 1987 “vắng mặt”. Trú tại: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình

2. Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1970 “vắng mặt”. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

-1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2017, Đặng Văn L đi nhờ xe lên Bưu điện thị trấn H, huyện H mục đích mua ma túy để sử dụng, đến Bưu điện Hưng Nhân L gặp và nhờ một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể) mua hộ 02 gói ma túy (Hêrôin) với giá 400.000 đồng và trả công cho họ là 50.000 đồng. Sau khi mua được L cất 02 gói ma túy (Hêrôin) bên trong vành mũ lưỡi chai đang đội, đi về đến Thôn T, xã T, huyện H thì bị Công an huyện H, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang L có hành vi cất giấu 02 gói giấy tráng kim màu trắng, mở kiểm tra bên trong 02 gói giấy có chứa chất bột màu trắng dạng cục. L khai nhận đó là 02 gói ma túy (Hêrôin) của L, tàng trữ để sử dụng. Công an huyện H, đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ, quản lý của Đặng Văn L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu trắng đã qua sử dụng, 01 mũ lưỡi chai màu xám phía trước mũ có chữ UNILEVER màu xanh đã cũ. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn L, Công an huyện H thu giữ, quản lý 02 chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đặng Văn L.

Tại Bản kết luận giám định số 502/KLGĐ- PC54 ngày 18/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng 0,2943 gam (Không phẩy hai nghìn chín trăm bốn mươi ba gam) Heroine STT:20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 26/2018/KSĐT ngày 12-02-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đặng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Trong phần tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Văn L như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L; Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 BLHS: Tịch thu để tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 502/KLGĐ – PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái

-2

Bình bên trong có ma túy Hêroin; 02 chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 01 mũ lưỡi chai màu xám phía trước mũ có chữ UNILEVER màu xanh đã cũ, Trả lại bị cáo Đặng Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu trắng đã qua sử dụng và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đặng Văn L và bị cáo Đặng Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đặng Văn L nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo L: Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Văn L tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 11 giờ 20 phút ngày 15/12/2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện H; biên bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 13 giờ ngày 15/12/2017; biên bản khám xét do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 13 giờ ngày 15/12/2017 tại nhà ở của Đặng Văn L; bản kết luận giám định số 502/KLGĐ- PC54 ngày 18/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: Anh Trần Xuân H và anh Nguyễn Xuân L. Bị cáo Đặng Văn L đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ ngày 15/12/2017, tại địa phận Thôn T, xã T, huyện H Đặng Văn L, sinh năm 1974, trú tại Thôn D, xã T, huyện H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2943 gam (Không phẩy hai nghìn chín trăm bốn mươi ba gam) ma túy loại Hêrôin, mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Đặng Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều

-3

249 BLHS. Vì vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo L là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o: Hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tóy mµ bÞ c¸o Đặng Văn L thùc hiÖn lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m chính sách độc quyền qu¶n lý của Nhµ N íc về c¸c chÊt ma tóy. Hµnh vi cña bÞ c¸o cßn lµm mÊt trËt tù trÞ an vµ g©y bÊt b×nh trong quÇn chóng nh©n d©n t¹i ®Þa ph ¬ng và là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác như trộm cắp tài sản, giết người, cướp giật tài sản ….

Xét thân nhân của bị cáo, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị c¸o Đặng Văn L không bÞ ¸p dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù nào theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 52 BLHS, quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai b¸o thµnh khÈn nªn ® îc ¸p dông t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51 BLHS, trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Từ những nhận xét trên, HĐXX thấy cÇn ph¶i tiếp tục c¸ch ly bÞ c¸o khái cuéc sèng x· héi trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o bÞ c¸o nãi riªng vµ phßng ngõa chung cho x· héi.

Về nguồn gốc số ma túy, Đặng Văn L khai nhận: Vào trưa ngày 15/12/2017, L ra khu vực Bưu điện thị trấn H, huyện H gặp và nhờ một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ cụ thể mua hộ 02 gói ma túy (Hêrôin). Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không xác định được con người cụ thể đã mua hộ ma túy cho L nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đặng Văn L là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 0,2728 gam (không phẩy hai nghìn bảy trăm hai mươi tám gam) ma túy (Hêrôin) bao gói trong bao niêm phong số 502/KLGĐ-PC54 của phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình; 02 chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 01 mũ lưỡi chai màu xám phía trước mũ có chữ UNILEVER màu xanh đã cũ là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu trắng đã qua sử dụng và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đặng Văn L là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo Đặng Văn L.

Bị cáo Đặng Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Từ các lẽ trên,

-4

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyªn bè: BÞ c¸o Đặng Văn L ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

3. Xö ph¹t bị cáo Đặng Văn L 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 15/12/2017.

4.VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

4.1 Tịch thu để tiêu huỷ: 0,2728gam (không phẩy hai nghìn bảy trăm hai mươi tám gam) ma túy (Hêrôin) bao gói trong bao niêm phong số 502/KLGĐ-PC54 của phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình; 02 chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 01 mũ lưỡi chai màu xám phía trước mũ có chữ UNILEVER màu xanh đã cũ.

4.2 Trả lại bị cáo L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu trắng đã qua sử dụng và 01chứng minh thư nhân dân mang tên Đặng Văn L (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

5. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; BÞ c¸o Đặng Văn L ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

BÞ c¸o Đặng Văn L cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

* Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

ơ

- VKSND huyện H;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện H;

(đã ký)

- Công an huyện H;

- Bị cáo;

Trần Thị Nhàn

- Lưu hồ sơ. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN HƢNG HÀ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH THÁI BÌNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[ơ

Hưng Hà, ngày 13 tháng 3 năm 2018

-5

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

* Với Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phức và Phạm Thị Huệ.

Căn cứ vào các Điều 299, Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án vụ án hình sự đối với bị cáo:

Đặng Văn L sinh ngày 07/09/1974; nơi sinh: huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

1. Về tội danh: BÞ c¸o Đặng Văn L ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

Kết quả biểu quyết 3/3.

2. Về điều luật áp dụng: ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kết quả biểu quyết 3/3.

3. Về hình phạt: Xö ph¹t bị cáo Đặng Văn L 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 15/12/2017.

Kết quả biểu quyết 3/3.

4. Về các vấn đề khác:

VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

4.1 Tịch thu để tiêu huỷ: 0,2728gam (không phẩy hai nghìn bảy trăm hai mươi tám gam) ma túy (Hêrôin) bao gói trong bao niêm phong số 502/KLGĐ-PC54 của phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình; 02 chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 01 mũ lưỡi chai màu xám phía trước mũ có chữ UNILEVER màu xanh đã cũ.

4.2 Trả lại bị cáo L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu trắng đã qua sử dụng và 01chứng minh thư nhân dân mang tên Đặng Văn L (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

-6

VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; BÞ c¸o Đặng Văn L ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

Kết quả biểu quyết 3/3.

Biên bản đã được thông qua tại phòng nghị án vào hồi 09 giờ 15 phút cùng ngày. Các Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ