vanban.org

Bản án 15/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạ m tộ i “Mua bán trái phép chấ t ma tuý”

Áp dụ ng khoả n 1, Điề u 194; Điề u 33; điể m p, khoả n 1, khoả n 2, Điề u 46; điểm g, khoản 1, Điều 48; khoản 2, Điều 51 Bộ luậ t Hình sự năm 1999. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật h…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạ m tộ i “Mua bán trái phép chấ t ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 15/2018/HSST
Ngµy: 23/4/2018

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Lê Văn Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Ký

2. Ông Tống Văn Tuy ên

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Đức – Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Khương - Kiểm sát vi ên

Ngày 23 tháng 4 năm 2018 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự thụ lý số 11/2018/HSST ngày 03/4/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh T ; Tên gọ i khác: không; Sinh ngày:07/03/1974; Tạ i xã N, huyệ n N, tỉ nh Thanh Hoá; Trú tạ i: tiểu khu 6, thị trấn H , huyệ n H, tỉ nh Thanh Hoá; Nghề nghiệ p: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộ c: kinh; Tôn giáo: không; Quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông Nguyễn T ư T (đã chết) và bà Đào Thị Thanh L ; Gia đình có bố n anh em, bị cáo là con thứ ba; bị cáo không có chồng và có hai con.

Tiề n sự : Không

Tiền án: B ị cáo có một tiền án

Ngày 13/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Nhân thân: Ngày 11/3/2009 bị Tòa án nhân dân thị x ã B xử phạt 24 tháng t ù cho hư ởng án treo, thời gian thử thách 47 tháng, 18 ng

ày về tội “đánh bạc” . Bị cáo chấp hành xong bản án n ày ngày 09/6/2014.

Tạm giữ: Bị cáo bị tạ m giữ từ ngày 27/12/2017 đế n ngày 30/12/2017.

Tạm giam: không

Bị cáo tại ngoại có mặ t tạ i phiên toà

Ngư ời l àm chứng:

1/ Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1985

Trú tại: thôn T x ã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

2/ Anh Nguyễn Bá C , sinh năm 1992

Trú tại: thôn 10, x ã H, huyện H , Thanh Hóa, vắng mặt.

3/ Ông Trịnh Xuân H , sinh năm 1961

Trú tạ i: tiểu khu 6, thị trấn H, huyện H

, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 3 0 phút ngày 27/12/2017, tổ công tác đội 2, phòng PC47, Công an tỉnh Thanh Hoá bắt quả tang Nguyễn Thị Thanh T đang bán trái phép chất ma tuý cho Hoàng Văn T và Nguyễn Bá C tại nhà riêng của T ở tiểu khu 6, thị trấn H, huyện H. Tang vật thu giữ tại chỗ gồ m: Thu giữ trên tay phải của Hoàng Văn T 02 (hai) gói giấy màu trắng có dòng kẻ , bên trong chứa chất bột mầu trắng ngà dạng cục vụ n, T và C khai nhậ n đó là 02 gói ma tuý vừa mua của T; Thu trong túi quần bên trái T đang mặc 200.000 đồng (gồm các mệnh giá: 01 tờ 100.000 đồng và 02 tờ 50.000 đồng ) T khai đó là tiền vừa bán ma tuý cho T và C. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt ngư ời phạm tội quả tang và niêm phong tang vật .

Tại bản kết luận giám định số 163

/MT-PC54 ngày 31/12/2017 của Phòng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận : Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn của phong b ì niêm phong ký hiệu “M” có tổng trọng l ư ợng l à: 0,014g (không phẩ y không mư ời bốn gam), loại H êrôin.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị Thanh T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 27/12/2017, T đi xe ôm ra khu vực Bệnh viện đa khoa huyện H, mua 02 gói nhỏ ma tuý giá 200.000 đồng của một ngư ời nam giới không quen biết khoản g 50 tuổ i. Sau khi mua đư ợc 02 gói ma tuý, T mang về nhà mở 02 gói ma tuý lấy ra mỗi gói một ít để sử dụng , số còn lại T gói vào giấy kẻ màu trắng . Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/12/2017, T đang ở nhà có Hoàng Văn T và Nguyễn Bá C đến hỏi mua ma tuý để sử dụng , T đồng ý bán. T đư a cho T 200.000 đồng , T cất tiền vào túi quần bên trái đang mặc , rồi đư a cho T 02 gói nhỏ ma tuý, T cầm 02 gói ma tuý ở tay phải để đi về thì bị lực lư ợng Công an bắt quả tang và thu giữ tang vật .

Hoàng Văn T và Nguyễn Bá C khai nhận : Khoảng 16 giờ ngày 27/12/2017 Hoàng Văn T và Nguyễn Bá C, mỗi ngư ời góp 100.000 đồng rủ nhau đi mua ma tuý sử dụng , sau đó T và C đi xe buýt ra thị trấn H đến nhà Nguyễn Thị Thanh T, ở tiểu khu 6, thị trấn H. Đến nơ i T và C gọi T ra mở cửa , T hỏi mua 200.000 đồng hêrôin, T lấy tiền cất vào túi quần bên trái đang mặc và đư a cho T 02 gói nhỏ ma tuý. T đang cầm ma túy ở tay phải thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của T 02 gói nhỏ ma tuý đư ợc gói bằng giấy kẻ mầu trắng và thu giữ trong túi quần bên trái của T 200.000 đồng , sau đó tiến hành lập biên bản và niêm phong số ma túy thu giữ đ ư ợc .

Tạ i bả n cáo trạ ng số 15/CT-VKS ngày 02/4/2018 củ a Việ n kiể m sát nhân dân huyệ n Hà Trung đã truy tố Nguyễn Thị Thanh T về tộ i “Mua bán trái phép chấ t ma tuý” theo khoả n 1, Điề u 194 Bộ luậ t Hình sự năm 1999.

Tạ i phiên tòa, bị cáo thừ a nhậ n hành vi như cáo trạ ng đã truy tố . Đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyệ n Hà Trung giữ nguyên quyế t đị nh truy tố và đề nghị áp dụ ng khoả n 1, Điề u 194; Điề u 33; điể m p, khoả n 1, khoả n 2, Điề u 46; điểm g, khoản 1, Điều 48 Bộ luậ t Hình sự năm 1999 xử phạ t bị cáo từ 27 tháng đế n 30 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng x ét xử nhận định nh ư sau:

[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về h

ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng

ư ời tiến h ành tố tụng v à cơ quan ti ến h ành tố tụng. Các h ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng

ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ qua n tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đúng với tr ình tự, thủ tục, thẩm quyền v

à hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng h ình sự.

[2]. Lờ i khai củ a bị cáo tạ i phiên toà phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bị cáo ở giai đoạ n điề u tra, phù hợ p vớ i lờ i khai củ a những ngư ờ i làm chứ ng, phù hợ p vớ i vậ t chứ ng thu giữ đư ợ c và bả n kế t luậ n giám đị nh đủ cơ sở khẳ ng đị nh ngày 27/12/2017 Nguyễn Thị Thanh T đã có hành vi bán 0,014gam hêrôin cho Hoàng Văn T và Nguyễn Bá C tại n hà riêng của T ở tiểu khu 6 thị trấn H, huyện H

, thu lời bất chính số tiền 200.000 đồng

. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H

à Trung truy tố bị cáo về tội

"Mua bán trái phép chấ t ma túy" theo khoả n 1, Điề u 194 Bộ luậ t Hình sự năm 1999 là đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi củ a bị cáo là nguy hiể m cho xã hộ i, thuộ c trư ờ ng hợ p nghiêm trọ ng, xâm phạ m đế n chế độ độ c quyề n quả n lý củ a Nhà nư ớ c về các chấ t ma tuý. Đây là loạ i chấ t gây nghiệ n có tác hạ i rấ t lớ n và ả nh hư ở ng xấ u tớ i sứ c khoẻ con ngư ờ i, là mộ t trong nhữ ng nguyên nhân chính gây ra các loạ i tộ i phạ m và tệ nạ n xã hộ i khác. Hoạ t độ ng mua bán trái phép chấ t ma túy là nguyên nhân trự c tiế p dẫ n đế n tệ nạ n nghiệ n hút tràn lan, mặ c dù ý thứ c đư ợ c tác hạ i củ a ma túy đố i vớ i xã hộ i như ng vì hám lờ i bị cáo đã bấ t chấ p pháp luậ t để lao vào con đư ờ ng phạ m tộ i. Mặt khác, bị cáo l à đối t ư ợng đ ã từng bị kết án,

ngày 13/4/2016 bị T òa án nhân dân huyện H à Trung xử phạt 02 n ăm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Trong thời gian đ

ư ợc ho ãn thi hành án, bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới, lần phạm tội n

ày củ a bị cáo thuộc tr ư ờng hợp tái phạm theo điểm g, khoản 1, Điều 48 Bộ luật H

ình sự năm 1999. Ngo ài ra, ngày 11/3/2009 bị cáo còn bị Tòa án nhân dân thị x ã Bỉm S ơn x ử phạt 24 tháng t ù cho hư ởng án treo, thời gian thử thách 47 tháng, 18 ng ày về tội “Đánh bạc” . Mặc d ù đã đư ợc xóa án tích, song điều đó cũng cho thấy bị cáo có nhân thân xấu.

Cầ n phả i áp dụng hình phạ t nghiêm khắ c cách ly bị cáo khỏ i đờ i số ng xã hộ i trong mộ t thờ i gian, sau đó tổng hợp với bản án bị cáo ch ưa thi hành. T ổng thời gian bị cáo bị tạm g

iữ lần n ày và của b ản án ch ưa thi hành là 6 ngày, đư ợc trừ v ào thời gian chấp h ành hình phạt chính của bị cáo.

Tuy nhiên, sau khi phạ m tộ i ở giai đoạ n điề u tra và tạ i phiên toà bị cáo thành khẩ n khai báo, đây là tình tiế t giả m nhẹ trách nhiệ m hình sự theo Điể m p, Khoả n 1, Điề u 46 Bộ luậ t Hình sự năm 1999. Bị cáo có bố và mẹ đều có th ành tích trong kháng chiến chống Mỹ v

à đư ợc tặng th ư ởng huân ch ương , cần coi đây là tình tiế t giả m nhẹ trách nhiệ m hình sự theo khoả n 2, Điề u 46 Bộ luậ t Hình sự năm 1999 để giảm một phần h ình phạt cho bị cáo .

Trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy tạ i khu vực Bệnh viện đa khoa

huyện H củ a mộ t ngư ờ i đàn ông khoả ng 50 tuổ i không biế t tên và đị a chỉ nên không có cơ sở để xử lý. Hoàng Văn T và Nguyễn Bá C là đối t ư ợng nghiện mua ma tuý của T để sử dụng. C v

à T không có tiền án, tiền sự về h

ành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý. Mặt khác, khối l

ư ợng ma tuý mà T và C mua chư a đủ 0,1gam để xử lý về tội “T

àng trữ trái phép chất ma túy”, n ên Cơ quan c ảnh sá t điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá đã xử lý h ành chính là phù hợp.

[4]. Về vậ t chứ ng: Số Hêrôin cơ quan điề u tra thu giữ đư ợ c còn lạ i sau giám đinh là vậ t cấ m lư u hành nên tị ch thu tiêu huỷ . Số tiền 200.000 đồng l

à do phạm tội m à có nên tịch thu sung quỹ nh à nư ớc.

[5]. Về án phí: Bị cáo phả i chị u án phí theo quy đị nh củ a pháp luậ t

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố : bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạ m tộ i “Mua bán trái phép chấ t ma tuý”

Áp dụ ng khoả n 1, Điề u 194; Điề u 33; điể m p, khoả n 1, khoả n 2, Điề u 46; điểm g, khoản 1, Điều 48; khoản 2, Điều 51

Bộ luậ t Hình sự năm 1999.

Xử phạ t bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 27 (Hai mươi b ảy ) tháng tù. Tổng hợp với

hình phạt 02 (Hai) năm tù tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 20/2016/HSST ng ày 13/4/2016 của T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án l à 51 (Năm mươi m ốt) tháng tù. Thời hạ n chấp h ành hình phạt t ù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án và đư ợc trừ 6 (sáu) ngày bị cáo đ ã bị tạm giữ của hai bản án .

Căn cứ điểm a, b, khoản

2, Điều 106 Bộ luật tố tụng H

ình sự năm 2015.

Tịch thu ti êu huỷ to àn bộ số Hêrôin còn lại sau giám định, tất cả đ

ư ợc đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật h ình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa phát h ành đư ợc dán kín, niêm phong (Đặc điểm của phong b ì niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huy ện H à Trung ngày 18/4/2018).

Tịch thu sung quỹ nh à nư ớc số tiền 200.000đ

(Hai trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội m à có theo biên lai thu tiền số AA/2010/007287 ng ày 18/4/2018 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa .

Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng H

ình sự ; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc hộ i.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự s ơ th ẩm.

Trư ờ ng hợ p bả n án đư ợ c thi hành theo Điề u 2 Luậ t thi hành án dân sự thì ngư ờ i đư ợ c thi hành án dân sự , ngư ờ i phả i thi hành án dân sự có quyề n thoả thuậ n thi hành án, quyề n yêu cầ u thi hành án, tự nguyệ n thi hành án hoặ c bị cư ỡ ng chế thi hành án theo quy đị nh tạ i các điề u 6, 7 và 9 Luậ t thi hành án dân sự ; thờ i hiệ u thi hành án đư ợ c thự c hiệ n theo quy đị nh tạ i Điề u 30 Luậ t thi hành án dân sự .

Bị cáo có qu yền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng

ày kể từ ng ày tuyên án.

Cỡ chữ