vanban.org

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 19, Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ph. Chị Lê Thị Ph được ly hôn với anh Huỳnh Thanh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Le Thi P và Huynh Thanh Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 19, Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10-01-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Hoàng Phúc.

Ông Nguyễn Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sơn Thanh Phong. Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 10 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017. về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2017/QĐXX-ST ngày 11 tháng 12 năm 2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 141/2017/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ph.

Địa chỉ: ấp 4, xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, có mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh Đ.

Địa chỉ: ấp 6, xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2017 chị Lê Thị Ph trình bày: Chị và anh Huỳnh Thanh Đ chung sống từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2014 không hạnh phúc nữa, nguyên nhân do anh Đ không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị Ph, anh Đ đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Có một con chung tên Huỳnh Lê Thị H, sinh ngày 30/10/2014 đang sống với chị Ph. Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: không.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ph yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Thanh Đ:

Về con chung: Chị Ph yêu cầu được nuôi dưỡng con tên Huỳnh Lê Thị H, sinh ngày 30/10/2014, chưa yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Tài liệu chứng cứ kèm theo yêu cầu khởi kiện: giấy chứng minh nhân dân (pho to), giấy chứng nhận kết hôn (bản sao), giấy khai sinh của Huỳnh Lê Thị H (bản sao).

Quá trình thu thập chứng cứ anh Huỳnh Thanh Đ dù đã nhận được các văn bản của Tòa án về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của chị Ph, nhưng anh Đ vẫn không thể hiện ý kiến.

Tại phiên toà: Nguyên đơn chị Lê Thị Ph trình bày và giữ nguyên yêu cầu như trước đây, bị đơn anh Huỳnh Thanh Đ vắng mặt chưa thể hiện ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Lê Thị Ph có gửi đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Thanh Đ; chị Ph và anh Đ có một con chung, nên Tòa xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn, con chung. Đây là vụ án về hôn nhân gia đình, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Địa chỉ của bị đơn anh Đ tại ấp 6, xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh giải quyết là hoàn toàn phù hợp quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ph và anh Huỳnh Thanh Đ chung sống từ năm 2013 có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân của chị Ph anh Đ là hợp pháp. Ngày 10/10/2017 chị Ph có yêu cầu ly hôn, vì cho rằng hôn nhân không hạnh phúc, do anh Đ thiếu trách nhiệm không quan tâm chăm sóc vợ con, khi chị sinh con, anh Đ có đến thăm rồi lại bỏ đi. Anh Đ chưa thể hiện ý kiến. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…..” nhưng theo thừa nhận của chị Ph thì chị và anh Đ tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc và hiện tại anh chị đã ly thân. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của chị Ph anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ph.

Về con chung: Chị Ph khai có 01 con chung tên Huỳnh Lê Thị H, sinh ngày 30/10/2014 với anh Huỳnh Thanh Đ và cung cấp cho chứng cứ là giấy khai sinh của cháu Huỳnh Lê Thị H (bút lục 01), anh Đoàn chưa thể hiện ý kiến. Nên Hội đồng xét xử xác định cháu Huỳnh Lê Thị H là con chung của chị Lê Thị Ph và anh Huỳnh Thanh Đ. Cháu Huỳnh Lê Thị H sống chung với chị Ph từ lúc chị Ph, anh Đ ly thân đến nay, tính đến nay cháu H được 39 tháng tuổi, nên cần người chăm sóc, giáo dục. Chị Ph có yêu cầu nuôi dưỡng cháu H, anh Đ chưa thể hiện ý kiến. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”. Theo trình bày của chị Ph thì từ khi ly thân đến nay chị Ph là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Để đảm bảo cho cháu H được phát triển tốt, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ph.

Đối với việc cấp dưỡng, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình người không trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa chị Ph chưa yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nên Tòa chưa xem xét, khi nào chị Ph có yêu cầu sẽ xem xét bằng vụ án dân sự khác.

Về nợ chung: Chị Ph khai không có, anh Đ vắng mặt chưa thể hiện ý kiến, nên Tòa chưa xem xét, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét.

Án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Ph nộp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 19, Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ph. Chị Lê Thị Ph được ly hôn với anh Huỳnh Thanh Đ.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Ph được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Huỳnh Lê Thị H, sinh ngày 30/10/2014.

Anh Huỳnh Thanh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Ph nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Ph đã nộp tạm ứng án phí khởi kiện theo biên lai thu số 0012456 ngày 10/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh thành án phí.

4. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ