- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Y ly hôn anh S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Ngọc Y và anh Võ Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2018 V/v Ly hôn giữa Chị Y và anh S |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà V Th Thanh Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành
2. Ông Huỳnh Kim Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà V Th Lệ Trinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 525/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2017 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị V Th Ngọc Y, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).
2. Bị đơn: Anh V Văn S, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/11/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc Y trình bày: Chị và anh Võ Văn S cưới nhau vào năm 2005, hôn nhân tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2005 tại UBND xã L, huyện C. Sau khi cưới, chị về làm dâu bên chồng, theo chị vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh S không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 07/2016 cho đến nay. Thời gian sống ly thân, vợ chồng có gặp nhau nhưng không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh S.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Võ Ngọc Gia H, sinh ngày 19/12/2005, hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn, chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: không có.
Về nợ: không có.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Võ Văn S trình bày: Anh thống nhất với trình bày của chị Võ Thị Ngọc Y về thời gian tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn. Theo anh S, vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có gì mâu thuẫn trầm trọng. Anh và chị Y đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2016 cho đến nay. Hiện tại, anh vẫn còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung là cháu Võ Ngọc Gia H, sinh ngày 19/12/2005, hiện con đang sống với chị Y. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh đồng ý cho chị Y được tiếp tục nuôi cháu H, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: không có.
Về nợ: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Chị Võ Thị Ngọc Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn S. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Bị đơn anh Võ Văn S đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng anh S có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh S.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc Y và anh Võ Văn S cưới nhau vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị Y nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh S không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Anh S cho rằng vợ chồng chung sống không có gì mâu thuẫn trầm trọng. Nay chị Y yêu cầu ly hôn, anh S không đồng ý.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian chị Y và anh S sống ly thân đã lâu, anh S không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn. Trong khi đó, chị Y cương quyết ly hôn, không đồng ý đoàn tụ vì chị không còn tình cảm với anh S, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Y và anh S đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Y yêu cầu được ly hôn với anh S là có căn cứ. Do đó, cần áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y.
Về nuôi con chung: Chị Y và anh S có một con chung là cháu Võ Ngọc Gia H, sinh ngày 19/12/2005, hiện cháu H đang sống với chị Y. Khi ly hôn, chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, anh S đồng ý. Ngoài ra, cháu H có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định, bình thường của cháu H, Hội đồng xét xử quyết định cho chị Y được tiếp tục nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản: Chị Y và anh S đều xác định không có tài sản chung nên không đề cập.
Về nợ: Chị Y và anh S đều xác định không có nợ chung nên không đề cập.
Về án phí: Chị Y phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Y và anh S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Ngọc Y và anh Võ Văn S.
2. Về nuôi con chung: Chị Võ Thị Ngọc Y được tiếp tục nuôi con chung là cháu Võ Ngọc Gia H, sinh ngày 19/12/2005. Anh Võ Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người nuôi dưỡng cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
3. Về án phí: Chị Võ Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000585 ngày 05/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C. Chị Võ Thị Ngọc Y đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND nơi ĐKKH; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA V Th Thanh Nhung |