- Tranh chấp gì? án hành chính — "BA HCST HA THI N KIEN UBND HUYEN H"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 66; điểm a khoản 3 Điều 69; Điều 114 Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ chính? Điều 32 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 348 Luật Tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2018/HC-ST Ngày 02 - 11 - 2018 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Long Kiếm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Viết Khê;
Bà Trần Thị Dung;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Phư ng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguy n Thị Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 29/2018/TLST-HC ngày 31 tháng 7 năm 2018 về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2018/QĐXXST-HC ngày 17 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Hà Thị N; cư trú tại: Thôn Đ, x C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có m t.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông N1 - Luật sư, Công ty Luật TNHH N1; có m t.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông A - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn (Văn bản ủy quyền 24/8/2018); v ng m t.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông B – Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có m t.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị E; cư trú tại: Thôn Đ, x C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; v ng m t.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị E: Bà Hà Thị N; cư trú tại: Thôn Đ, x C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (Văn bản ủy quyền ngày 18/6/2018 ; có m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Quyết định số 6083/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Hữu L ng, tỉnh Lạng Sơn (sau đây g i t t là Quyết định 6083 hộ gia đ nh bà Hà Thị N có một phần diện tích đất n m trong diện tích đất thu hồi để thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đư ng cao tốc B c Giang - Lạng Sơn; không đồng ý với phương án bồi thư ng hỗ tr và tái định cư dự án theo Quyết định 6083, bà Hà Thị N đ làm đơn khiếu nại Quyết định 6083 đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H nhưng quá th i hạn giải quyết mà bà N không nhận đư c quyết định giải quyết khiếu nại, nên bà Hà Thị N đ khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn yêu cầu hủy một phần Quyết định 6083 đối với phần liên quan đến hộ gia đ nh của bà.
Ngư i khởi kiện bà Hà Thị N trình bày: Tại Quyết định 6083 gia đ nh bà bị thu hồi 1015.3m2 tại thửa số 04 t trích đo TĐ-07. Theo bà Hà Thị N, diện tích đất này đ đư c bố m bà N khai hoang để sản xuất đ hơn 40 năm và không có tranh chấp với ai nhưng chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, trong quá tr nh sử dụng trước đây gia đ nh bà có trồng cây vải, những năm gần đây gia đ nh bà mới trồng cây bạch đàn. Do đó, bà cho r ng diện tích đất bị thu hồi của gia đ nh bà là đất trồng cây lâu năm, tuy nhiên theo Quyết định 6083 xác định diện tích đất tại thửa số 04 t trích đo TĐ-07 là đất trồng r ng sản xuất và áp m c giá bồi thư ng 9000 đồng/m2 là không đảm bảo quyền l i của gia đ nh bà, hiện bà yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện H phải áp dụng m c giá bồi thư ng đối với đất trồng cây lâu năm là 47.000 đồng/m2 đối với diện tích đất gia đ nh bà bị thu hồi tại thửa số 04 t trích đo TĐ-07.
Ngoài ra, bà Hà Thị N đề nghị xem xét lại m c hỗ tr tạo việc làm theo m c giá bồi thư ng đối với đất trồng cây lâu năm.
Ngư i bị kiện Ủy ban nhân dân huyện H tr nh bày: Về tr nh tự thủ tục ban hành Quyết định 6083 là hoàn toàn đúng tr nh tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành; việc lập hồ sơ, phê duyệt phương án bồi thư ng, hỗ tr và tái định cư là đúng theo các quy định của pháp luật. Về xác định loại đất để tính m c bồi thư ng, hỗ tr : Diện tích 1015.3m2 bị thu hồi thuộc thửa đất số 04 t trích đo TĐ-07 t a tại: Thôn Đ, x C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Ủy ban xác định thửa đất này chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đ nh; tại biên bản kiểm kê đất đai, tài sản trên đất ngày 22/10/2017, hiện trạng khi thu hồi đất đang trồng 391 cây bạch đàn đư ng kính gốc t 10 cm đến 30 cm, ngoài ra không trồng cây g khác. Do đó, việc áp dụng m c bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư cho hộ bà Hà Thị N đối với 1015.3m2 bị thu hồi theo loại đất trồng r ng sản xuất là đúng quy định của pháp luật đất đai. Các yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N là không có cơ sở. Ngư i bị kiện yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định 6083 của ngư i khởi kiện.
Tại văn bản ghi ý kiến ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đều nhất trí và có ý kiến như ngư i khởi kiện.
Tại đơn đề nghị đề ngày 10/10/2018, ngư i khởi kiện là bà Hà Thị N đề nghị ho n phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và đối thoại vào ngày 11/9/2018 và không tổ ch c tiến hành phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và đối thoại nữa; tại Công văn số 828/UBND-TTPTQĐ ngày 27/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện H đề nghị giải quyết v ng m t ngư i đại diện theo ủy quyền của ngư i bị kiện. Do vậy, không thể tiến hành phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và đối thoại đư c.
Tại phiên tòa, ngư i khởi kiện tr nh bày và yêu cầu như sau: Về tr nh tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành Quyết định 6083 c ng như việc kiểm đếm, đo đạc đất là đúng quy định; về áp giá bồi thư ng và m c hỗ tr tạo việc làm theo m c giá bồi thư ng đối với đất trồng r ng sản xuất là không đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu hủy một phần Quyết định 6083. Gia đ nh tôi chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất c ng như các loại giấy t về đất; chưa đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, gia đ nh đ trồng cây bạch đàn t năm 2009; chưa bao gi làm nhà trên đất.
Ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của ngư i khởi kiện có ý kiến:
Thửa số 1971 bao gồm hai thửa là thửa số 04 của bà N và thửa số 41 của bà K là m chồng bà N nhưng lại xác định khác nhau về loại đất; công văn của UBND x xác định chung chung; Công văn của UBND huyện và của Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Lạng Sơn là không có căn c không có giá trị ch ng minh; cần đưa UBND x vào tham gia tố tụng là ngư i làm ch ng để làm rõ quá tr nh sử dụng đất và xác định loại đất; tại bút lục số 123 mảnh trích đo đ thể hiện diện tích thửa 1971 là hơn 3000m2 nhưng theo bản đồ đất lâm nghiệp th diện tích là hơn 2000m2 chênh lệch hơn 800m2 điều đó thể hiện các cơ quan chuyên môn đo đạc không chính xác, không đáng tin cậy; đất liền kề với đất bị thu hồi lại xác định là đất trồng cây lâu năm nhưng đất bà N lại xác định là đất r ng trồng sản xuất là không đúng. Diện tích đất 1015.3m2 bị thu hồi theo Quyết định 6083 đ đư c gia đ nh bà Hà Thị N khai hoang t lâu, trước đây gia đ nh bà có trồng ngô, khoai, s n; sau đó chuyển sang trồng cây ăn quả như vải...; gia đ nh mới trồng bạch đàn t năm 2009 và thu hoạch đư c 01 lần. Như vậy, xác định diện tích đất tại thửa số 04 t trích đo TĐ-07 là đất trồng r ng sản xuất và áp m c giá bồi thư ng 9.000đồng/m2 là không đảm bảo quyền l i cho gia đ nh bà Hà Thị N. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần Quyết định 6083 đối với phần liên quan đến gia đ nh bà Hà Thị N như đ nêu trên.
Ngư i bị kiện không có m t tại phiên tòa nhưng tại Công văn số 805/UBND-TTPTQĐ ngày 22/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định 6083 của ngư i khởi kiện.
Ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của ngư i bị kiện có ý kiến: Thửa số 1971 bao gồm hai thửa là thửa số 04 của bà N và thửa số 41 của bà Loi là m chồng bà N nhưng lại xác định khác nhau về loại đất là do thửa 1971 chưa đư c cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất nên căn c vào hiện trạng sử dụng đất để xác định loại đất, cùng thửa 1971 nhưng mỗi nửa lại sử dụng khác nhau nên xác định loại đất khác nhau theo quy định; việc không cần đưa UBND x vào tham gia tố tụng là ngư i làm ch ng v UBND x không có thẩm quyền xác định loại đất, UBND x đ có công văn cung cấp cho Tòa án về thực trạng và quá tr nh sử dụng đất bị thu hồi; tại bút lục số 123 mảnh trích đo đ thể hiện diện tích thửa 1971 là hơn 3000m2 nhưng theo bản đồ đất lâm nghiệp th diện tích là hơn 2000m2 chênh lệch hơn 800m2 lý do có sự chênh lệch là v Bản đồ đất Lâm nghiệp tỷ lệ 1/10.000 và Mảnh trích đo tỷ lệ 1/500 hơn nữa mảnh trích đo đư c thực hiện trên cơ sở trực tiếp đo đạc thực tế khi thu hồi đất và do ngư i dân tự chỉ mốc giới theo thực tế và việc này không có tranh chấp với các hộ liền kề, đây là số liệu thực tế, chính xác có l i cho ngư i dân, hộ bà N đư c tăng lên về diện tích có l i cho bà N.
Diện tích 1015.3m2 bị thu hồi thuộc thửa đất số 04 t trích đo TĐ-07, t a tại: Thôn Đ, x C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, ban hành theo Quyết định 6083 là một phần thửa đất số 1971 bản đồ đất lâm nghiệp đo đạc năm 2011 diện tích 2649m2 mang tên hộ bà Hà Thị N, loại đất trồng r ng sản xuất (ký hiệu loại đất là RTS ; thửa đất này, bản đồ địa chính x Cai Kinh đo năm 1996 không đo vẽ và không thể hiện trên bản đồ; thửa đất này chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đ nh; t nh trạng khi thu hồi đất đang trồng cây bạch đàn, đ đư c thu hoạch hoạch nhiều lần. Theo quy định của pháp luật th phải xác định 1015.3m2 bị thu hồi là đất trồng r ng sản xuất. Do đó, việc áp dụng m c bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư cho hộ bà Hà Thị N đối với 1015.3m2 bị thu hồi theo loại đất trồng r ng sản xuất là đúng quy định của pháp luật đất đai. Về tr nh tự thủ tục ban hành Quyết định 6083 là hoàn toàn đúng tr nh tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành; việc lập hồ sơ, phê duyệt phương án bồi thư ng, hỗ tr và tái định cư là đúng theo các quy định của pháp luật. Các yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N là không có cơ sở. Yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định 6083 của ngư i khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Quá tr nh giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng về tr nh tự, thủ tục giải quyết vụ án; các đương sự chấp hành đúng quy định về quyền, nghĩa vụ của m nh khi tham gia tố tụng. Tòa án đ thụ lý vụ án, xác định đối tư ng khởi kiện, th i hiệu khởi kiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về quyết định hành chính bị khiếu kiện: Diện tích 1015.3m2 bị thu hồi thuộc thửa đất số 04 t trích đo TĐ-07, ban hành theo Quyết định 6083 là một phần thửa đất số 1971 loại đất trồng r ng sản xuất (ký hiệu loại đất là RTS tại bản đồ địa chính đất lâm nghiệp đo đạc năm 2011 mang tên hộ bà Hà Thị N; thửa đất này chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đ nh; t nh trạng khi thu hồi đất đang trồng cây bạch đàn. Việc áp dụng m c bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư cho hộ bà Hà Thị N đối với 1015.3m2 bị thu hồi theo loại đất trồng r ng sản xuất là đúng quy định của pháp luật, không có căn c để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N yêu cầu hủy một phần Quyết định số 6083/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn c điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính, bác yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N v không có căn c .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên toà, căn c vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Ý kiến của ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của ngư i khởi kiện về việc đề nghị đưa Ủy ban nhân dân x C huyện H tham gia tố tụng với tư cách là ngư i làm ch ng để xác định loại đất trong vụ án là không cần thiết, v Tòa án đ có văn bản yêu cầu cung cấp thông tin và đ có văn bản trả l i của cơ quan chuyên môn, cơ quan có thẩm quyền, chính quyền địa phương về xác định loại đất, t nh trạng cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất c ng như quá tr nh sử dụng đất là: Sở Tài nguyên và Môi trư ng; Ủy ban nhân dân huyện H; Ủy ban nhân dân xã C huyện H. Hơn nữa, Ủy ban nhân dân x C huyện H là cơ quan th không thể là ngư i làm ch ng đư c.
Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Quyết định số 6083/QĐ-UBND là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai quy định tại khoản 14 Điều 22 của Luật Đất đai 2013, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án b ng vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính. Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn thụ lý, giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Về th i hiệu khởi kiện: Quyết định số 6083/QĐ-UBND ban hành ngày 12/12/2017; bà Hà Thị N đ có các đơn khiếu nại đề ngày 04/02/2018, nhưng quá th i hạn giải quyết khiếu nại mà không đư c giải quyết. Do đó, bà Hà Thị N nộp đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2018 cho Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Như vậy, việc khởi kiện của bà Hà Thị N là trong th i hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Về việc xét xử v ng m t ông A: Ông A là ngư i đại diện theo ủy quyền của ngư i bị kiện, v ng m t tại phiên tòa và đ có công văn đề nghị xét xử v ng m t. Căn c khoản 2 Điều 157 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án v ng m t ngư i bị kiện.
Về nội dung vụ án: Quá tr nh giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ngư i khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn hủy một phần Quyết định số 6083/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện H v cho r ng Ủy ban nhân dân huyện H xác định không đúng mục đích sử dụng thửa đất số 04 t trích đo TĐ-07 dẫn đến việc xác định m c giá bồi thư ng về đất và tính khoản tiền hỗ tr chuyển đổi nghề, tạo việc làm không đúng quy định, xét thấy:
Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 6083/QĐ-UBND, thấy r ng: Dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc B c Giang - Lạng Sơn đư c Bộ Giao thông vận tải phê duyệt; căn c theo theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với hộ gia đ nh, cá nhân và theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 th Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi th có quyền quyết định phê duyệt phương án bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư. Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện H ban hành Quyết định số 6083/QĐ-UBND đối với hộ bà Hà Thị N là đúng thẩm quyền, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 66; điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013
Về h nh th c của quyết định hành chính bị khiếu kiện: Quyết định số 6083/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện H đư c ban hành đúng thể th c văn bản, đầy đủ nội dung về căn c ban hành quyết định, nội dung quyết định, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong việc thi hành quyết định; có biểu tổng h p kinh phí bồi thư ng, hỗ tr và biểu tính bồi thư ng, hỗ tr cụ thể kèm theo.
Về tr nh tự, thủ tục ban hành Quyết định 6083/QĐ-UBND: Ủy ban nhân dân huyện H đ ban hành thông báo thu hồi đất, thực hiện việc kiểm đếm; lập, thẩm định phương án bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư; tổ ch c lấy ý kiến về phương án bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư, đồng th i niêm yết công khai theo quy định...Ngư i khởi kiện c ng không có th c m c về tr nh tự, thủ tục ban hành Quyết định 6083/QĐ-UBND. Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện H đ thực hiện đúng các quy định về tr nh tự, thủ tục ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư. Bà Hà Thị N không có ý kiến th c m c.
Về yêu cầu xác định lại giá đất bồi thư ng: Bà Hà Thị N cho r ng diện tích đất 1015.3m2 bị thu hồi tại thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 phải đư c bồi thư ng theo giá đất trồng cây lâu năm, v trước khi trồng bạch đàn gia đ nh đ trồng s n, trồng vải; cùng là thửa đất số 1971 chia làm hai phần th phần đ ng tên bà Loi là m chồng của bà đư c xác định là đất trồng cây hàng năm; xung quanh thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 đều đư c xác định là đất ruộng và đất trồng cây hàng năm. Thấy r ng, tại Công văn số 1205/STNMT-QLĐĐ ngày 02/10/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trư ng cung cấp thông tin r ng thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 là một phần thửa đất số 1971, t bản đồ số 01 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp x C, huyện H; theo Dự án đo đạc th thửa đất này không thực hiện việc cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, còn đư c khẳng định rõ là thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 chưa đư c cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất và là đất lâm nghiệp tại các Công văn số 805/UBND-TTPTQĐ ngày 22/8/2018, Công văn số 928/UBND-TTPTQĐ ngày 24/9/2018 của Ủy ban nhân dân huyện H và Công văn số 53/CV-UBND ngày 27/9/2018 của Ủy ban nhân dân x C, huyện H. Tại biên bản về việc xác minh theo hiện trạng sử dụng đất của hộ gia đ nh ngày 22/11/2017 th hiện trạng sử dụng đất tại thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 là đất trồng bạch đàn trồng năm 2008, đang kinh doanh chu k 2.
Do thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất; căn c quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, trong trư ng h p không có các giấy t theo quy định th việc xác định loại đất căn c theo hiện trạng sử dụng.
Căn c tiểu mục V.1 Cây lấy gỗ, mục V. Cây lâm nghiệp, Điều 5 của Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND ngày 10/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn cây bạch đàn thuộc nhóm cây lâm nghiệp lấy gỗ.
Căn c tiểu mục 1.2 và tiểu mục 1.2.1 khoản I Phụ lục số 01 của Thông tư số: 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trư ng: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng (gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) …. và đất mới được trồng rừng hoặc trồng kết hợp khoanh nuôi tự nhiên” “Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. ”
Căn c điểm b khoản 3 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển r ng năm 2004 quy định:” 3. Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: b) Rừng sản xuất là rừng trồng; “
Như vậy, việc xác định diện tích đất tại thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 là đất trồng r ng sản xuất của hộ bà Hà Thị N là có căn c .
Căn c để xác định loại đất đối với đất chưa đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất th căn c vào hiện trạng sử dụng; cùng là thửa đất số 1971 chia làm hai phần th phần đ ng tên bà Loi là m chồng của bà N đư c xác định là đất trồng cây hàng năm; xung quanh thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 đều đư c xác định là đất ruộng và đất trồng cây hàng năm v đều phải căn c vào hiện trạng sử dụng đất để xác định loại đất.
Căn c Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 20/12/2014 và Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 18/02/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn giá đất đối với loại đất r ng sản xuất tại x Cai Kinh là 9.000 đồng/m2. Do đó Quyết định 6083 có nội dung bồi thư ng, hỗ tr cho hộ bà Hà Thị N đối với diện tích đất bị thu hồi tại thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 diện tích 1015.3m2 đơn giá 9.000 đồng/m2 là có căn c . Yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N yêu cầu huỷ Quyết định 6083 để xác định lại đơn giá bồi thư ng, hỗ tr về đất là không có cơ sở nên không đư c chấp nhận.
Đối với yêu cầu xác định lại m c hỗ tr chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo đơn giá đất trồng cây lâu năm, thấy r ng: Việc bà Hà Thị N cho r ng diện tích đất bị thu hồi tại thửa đất 04 t trích đo TĐ-07 là đất trồng cây lâu năm là không có cơ sở như đ tr nh bày ở trên. Do vậy yêu cầu xác định lại m c hỗ tr chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo đơn giá đất trồng cây lâu năm của bà là không có cơ sở nên không đư c chấp nhận.
Như vậy, không có căn c để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N yêu cầu hủy một phần Quyết định số 6083/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Cần xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N v không có căn c .
Ý kiến của ngư i khởi kiện và ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của ngưòi khởi kiện không có căn c và không phù h p với nhận định nêu trên nên không đu c chấp nhận.
Ý kiến của ngư i bị kiện và ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của ngư i bị kiện là có căn c và phù h p với nhận định nêu trên nên đư c chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu tại phiên toà là có căn c và phù h p với nhận định nêu trên nên đư c chấp nhận.
Về án phí: Bà Hà Thị N khởi kiện không đư c Tòa án chấp nhận, nên phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 66; điểm a khoản 3 Điều 69; Điều 114 Luật Đất đai năm 2013;
Căn c vào khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06-01-2017 của Chính phủ; Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định về bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; khoản 2 Điều 4 và tiểu mục 1.2 và tiểu mục 1.2.1 khoản I Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02-6-2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trư ng; điểm b khoản 3 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển r ng năm 2004; khoản 7 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017.
Căn c vào mục 1.2 khoản 1 Điều 1 Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 18-02-2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn; khoản 2 Điều 3 Quy định Bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và Phụ lục tổng h p tiêu th c phân vùng khu vực các x , phư ng, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ban hành kèm theo Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 20-12-2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn; khoản 1 Điều 13 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ về bồi thư ng, hỗ tr , tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, ban hành kèm theo Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND ngày 14-02-2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn; Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND ngày 10/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
1. Về yêu cầu khởi kiện: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị N về yêu cầu hủy một phần Quyết định số 6083/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội.
Bà Hà Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngh n đồng) án phí hành chính sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Xác nhận bà Hà Thị N đ nộp đủ 300.000 đồng (ba trăm ngh n đồng) tạm ng án phí theo Biên lai số AA/2015/0000538 ngày 26/7/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
Đương sự có m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong th i hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Đương sự v ng m t tại phiên tòa có quyền khácng cáo bản án sơ thẩm trong th i hạn 15 ngày, kể t ngày bản án đư c giao ho c đư c niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nôi; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Cục THADS tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Ngư i tham gia tố tụng khác; -Lưu: Hồ sơ; HCTP; HCLĐ; KTNV và THA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Long Kiếm |