vanban.org

Bản án 15/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma tuý.

Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hu các vật chứng sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Luong Van N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 15/2017/HSST
Ngày: 15/11/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nghĩa; ông Quàng Văn Biên.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2017/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo sau đây:

Họ và tên: Lường Văn N, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT: bản H, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 8/12; con ông: Lường Văn I; còn bà: Lò Thị T; vợ là: Lò Thị, có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2017 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15h10 ngày 11/6/2017, t công tác Công an huyện S làm nhiệm vụ tại bản P, xã H, huyện S thì th y 02 thanh niên đi trên một xe mô tô đi từ hướng xã H về thị tr n S. Th y có biểu hiện nghi v n, t công tác đã yêu c u dừng xe để kiểm tra thì người điều khiển xe tăng ga b chạy, còn người ngồi sau bị giữ lại đã thả 02 gói nilon đang c m trên tay xuống đ t. Sau khi được yêu c u nhặt lên để giao nộp cho t công tác, người thanh niên đã tự nhặt giao nộp và khai nhận mình tên là Lường Văn N trú tại bản H, xã N. Vật chứng Nh t giao nộp gồm: 02 gói nilon màu xanh.

- Trong gói nilon màu xanh thứ nh t: Có 02 gói ni lon màu trắng và màu xanh, trong gói màu trắng chứa cục bột liên kết màu trắng; trong gói màu xanh có 06 viên nén màu hồng c ng nhiều mảnh v màu hồng – N khai nhận là Hêrôin và Hồng phiến.

- Trong gói nilon màu xanh thứ hai: có 02 cục bột liên kết màu trắng ngà – theo nh t khai nhận là Hêrôin.

Ngoài ra, thu giữ tại túi qu n bên phải c a N 01 điện thoại di động hiệu OPPO và số tiền 1.400.000VNĐ.

Ngày 12/6/2017, tại Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và tr ch m u giám định. Kết quả:

- Số bột màu trắng trong gói màu xanh thứ nh t có trọng lượng 27,84gam, đã tr ch 01gam làm m u giám định ký hiệu là N1.

- 06 viên nén c ng nhiều mảnh v c ng màu hồng có t ng trọng lượng 0,84gam, đã d ng hết làm m u giám định ký hiệu N5.

- Số ch t bột màu trắng trong gói màu xanh thứ hai có trọng lượng 1,81gam, đã tr ch 01gam làm m u giám định ký hiệu N6.

Tại kết luận giám định số: 606KLMT ngày 16/6/2017 c a Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

- M u gửi giám định ký hiệu N3, N6 là ch t ma tuý; Loại ch t Heroin; T ng trọng lượng m u gửi giám định là 0,2gam.

- M u gửi giám định ký hiệu N5 là ch t ma tuý; Loại ch t Methamphetamin; T ng trọng lượng m u gửi giám định là 0,84gam.

- T ng trọng lượng ch t ma tuý thu giữ được là 29,65gam; Loại ch t Heroin và 0,84gam; Loại ch t Methamphetamin.

Tại cơ quan Điều tra xác định được như sau:

Lường Văn N sử dụng ma túy từ năm 2007. Khoảng 12h ngày 10/6/2017, khi N đang ở nhà tại bản H, xã N, huyện S thì nhận được điện thoại c a một người quen tên là Đ, ở tỉnh Thái Nguyên (quen biết trước đây cùng làm thuê ở tỉnh Quảng Ninh). Đ nói đến gặp Đ ở ngã ba N, xã C, huyện T, tỉnh Sơn la Nh t nghĩ Định gọi đến đón về nhà chơi nên cũng không h i thêm gì mà l y xe môtô c a gia đình đi đến ngã ba N đứng đợi. Khoảng 05 phút sau thì th y Đ đi taxi đến, Đ xuống xe đi đến chỗ N đứng và đưa cho N số tiền 18.000.000VNĐ nhờ mua hộ 8 chỉ heroin và 10 viên hồng phiến, khi nào mua được sẽ cho N sử dụng c ng, đồng thời dặn N xóa số điện thoại sau khi liên lạc, N đồng ý nhận tiền rồi đi về. Đến khoảng 18h c ng ngày N đi bộ sang khu bản P, xã N, huyện S thì gặp một người thanh niên đi xe môtô (giống một người cùng được cai nghiện ma túy năm 2014) và biết N đang đi tìm mua ma túy với số tiền 18.000.000VNĐ, người thanh niên này bảo N ngồi lên xe sẽ chở đi mua ma túy, trên đường đi N h i tên thì người này tự giới thiệu tên là X ở bản M, huyện S. Khi đi đến bản C, xã H, X chở N vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 45 tu i, X đi vào nói chuyện với người này, còn N đứng ở ngoài sân, một lúc sau X đi ra h i N l y bao nhiêu thì N nói l y 08 chỉ heroin và 10 viên hồng phiến, X quay lại nói với người Mông rồi quay ra bảo N đưa cho 14.000.000VNĐ, N đồng ý và l y tiền ra đếm đưa cho X, X đưa cho người đàn ông dân tộc Mông, sau đó người này đi ra ngoài khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho N 02 gói nilon màu xanh, N mở ra kiểm tra th y gói nilon màu xanh thứ nh t bên trong có 01 gói heroin và 01 gói viên hồng phiến trong đó có nhiều mảnh bị v , còn gói nilon màu xanh thứ 2 có chứa heroin, N l y 02 nửa viên hồng phiến và xin thêm một t heroin để sử dụng, người này đưa cho N một cục nh heroin thì N bẻ ra làm 2 ph n, một ph n N gói c ng với gói nilon màu xanh thứ 2, ph n còn lại N trộn l n với 02 nửa viên hồng rồi c ng X sử dụng ngay tại đ y, sử dụng xong X r N đi về nhưng N đang say thuốc nên không về được, X h i vay N 2.000.000vnđ để sửa xe, sau đó X đi về, còn N xin ng lại nhà người Mông này, khoảng 22h N đưa 400.000vnđ bảo người này đi mua thức ăn về ăn tối. Khoảng 07h ngày hôm sau 11/6/2017 N đưa tiếp 200.000vnđ cho người đàn ông dân tộc Mông để đi mua thức ăn về ăn sáng. Đến khoảng 14h c ng ngày thì X quay lại đón N, khi hai người đi đến khu vực bản P, xã H th y t công tác Công an huyện S đang làm nhiệm vụ yêu c u dừng xe kiểm tra, X tăng ga b chạy còn N bị t công tác bắt giữ lại và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 114/KSĐT-MT ngày 02 tháng 10 năm 2017 c a Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Lường Văn N về tội: Tàng trữ trái phép ch t ma túy, theo điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm Sát viên v n giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016; Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7, điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm t . Miễn hình phạt b sung cho bị cáo; tịch thu sung qu Nhà nước số tiền tạm giữ c a bị cáo và truy thu khoản tiền bị cáo hưởng lợi b t ch nh; vật chứng khác xử lý theo quy định c a pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đ y đ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo c ng các chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận th y như sau:

Do mắc nghiện ma tuý nên Lường Văn N đã đi mua 29,65 gam Hêrôin và 0,84 gam Methamphetamine (số lượng đáng kể) để sử dụng, sau đó bị bắt quả tang. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Lường Văn N đã phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó, việc Khởi tố c a cơ quan Điều tra và Truy tố c a Viện kiểm sát nhân dân huyện S là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo khai báo quanh co, chưa thành khẩn, nhưng sau c ng cũng thừa nhận toàn bộ hành vi c a mình; lời khai nhận c a bị cáo thống nh t với lời khai tại cơ quan Điều tra; ph hợp với nội dung, tội danh bản Cáo trạng; lời khai nhận c a bị cáo cũng ph hợp với biên bản phạm tội q a tang, lời khai c a người làm chứng c ng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo hoàn toàn nh t tr và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối c ng xin được giảm nh hình phạt.

Hành vi c a bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự quản lý độc quyền c a Nhà nước đối với các ch t ma túy, gây m t trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đ y đ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ trái phép ch t ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng v n thực hiện. Vì vậy, c n thiết phải xử lý bị cáo nghiêm khắc và c n cách ly ra kh i đời sống xã hội một thời gian nh t định, để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có tiền án, tiền sự tuy nhiên đã được xoá án t ch; tại phiên toà khai báo không thành khẩn; tàng trữ ma tuý với số lượng nhiều. Do vậy, bị cáo sẽ không được hưởng tình tiết giảm nh theo quy định c a pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét đề nghị áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội c a Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử thống nh t áp dụng cho bị cáo được hưởng.

Về nguồn gốc ch t ma tuý: Bị cáo khai mua được c a người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại bản C, xã H. Quá trình điều tra không xác định được nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý là ph hợp, c n ch p nhận.

Theo lời khai c a N, số ma túy thu giữ trong vụ án là được một người tên Đ không biết họ, không rõ địa chỉ, ở tỉnh Thái Nguyên nhờ mua hộ nên cơ quan Điều tra không xác định được và không có căn cứ xử lý là ph hợp, c n ch p nhận.

Đối với người thanh niên tên X đã chở bị cáo đi mua ma tuý. Qua Điều tra xác minh có một người tên X ở bản N, xã M, huyện S. Cơ quan Điều tra đã tiến hành đối ch t, nhận dạng nhưng N không nhận dạng được người đã chở mình đi mua ma tuý nên cơ quan Điều tra cũng không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng c a vụ án còn lại:

- 26,84 gam nghi là Heroin và 0,81 gam nghi là Hêrôin là vật c m lưu hành; 02 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng là vật không còn giá trị sử dụng c n tịch thu tiêu hu .

- Chiếc điện thoại di động hiệu OPPO và số tiền 1.400.000 đồng đều là vật, tiền liên quan đến phạm tội nên c n tịch thu phát mại để sung qu Nhà nước. Bị cáo được hưởng lợi b t ch nh số tiền 2.600.000 đồng, khoản tiền này c n phải bị truy thu để sung công qu Nhà nước.

Xét th y bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thi hành nên miễn hình phạt b sung là (phạt tiền) đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma tuý.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016; Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7, điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Lường Văn N 09 năm 06 tháng t (chín năm sáu tháng tù). Thời gian ch p hành hình phạt t t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày (11/6/2017).

2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hu các vật chứng sau:

- 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi tang vật vụ: Lường Văn N – SN: 1988 chỗ ở: Bản H, xã N, huyện S, Sơn La; Hành vi: Tàng trữ trái phép ch t ma túy. Mặt sau phong bì có đ y đ chữ ký c a thành ph n tham gia niêm phong, một đ u phong bì bị cắt ngang.

- 01 (một) phong bì thư dán k n mặt trước ghi vật chứng vụ: Lường Văn N – SN: 1988 chỗ ở: Bản H, xã N, huyện S, Sơn La; Hành vi: tàng trữ trái phép ch t ma túy. N4 = 26,84 gam nghi là Heroin; N7 = 0,81 gam nghi là Hêrôin. Mặt sau phong bì có đ y đ chữ ký c a thành ph n tham gia niêm phong, 02 hình d u tròn c a phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

- 02 (hai) mảnh nilon màu xanh và 01 (một) mảnh nilon màu trắng.

Tịch thu phát mại sung qu Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng có số Imel1: 867717027875153, số Imel2: 867717027875146, trong có 02 sim điện thoại Viettell, màn hình v , máy đã qua sử dụng; và Tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Sơn La).

Truy thu c a bị cáo số tiền 2.600.000VNĐ.

3. Về án ph : Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ