- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ¸p dông điểm k khoản 2 ĐiÒu 190; ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; ĐiÒu 50; Điều 47 của Bé luËt h×nh sù.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14A/2019/HS-ST. Ngày 21 - 02 - 2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2019/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Dƣơng Thị H.A, sinh năm 1986, tại Hà Nam; nơi ĐKNKTT: tổ dân phố NS 2, phường CS, TP PL, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: đường TQK, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn X (đã chết) và bà Hoàng Thị V có chồng là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982; con: có 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/11/2018 đến ngày 19/11/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn: “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Có mặt.
* Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đại V - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam. Có mặt. * Người chứng kiến: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1956; địa chỉ: tiểu khu KK, thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt. * Ngƣời làm chứng: Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ dân phố NS 2, phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 9/2018, Dương Thị H.A đi tàu hỏa từ thành phố Hà Nội lên tỉnh Lào Cai rồi đi theo đường tiểu ngạch từ thành phố Lào Cai sang Trung Quốc và mua 02 bánh pháo nổ với giá 1.600.000đ của một cửa hàng tạp hóa Trung Quốc, sau đó mang qua đường tiểu ngạch về nhà trọ ở đường TQK, phường LHP, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để cất giấu.
Đến khoảng đầu tháng 10/2018, H.A tìm người mua pháo để bán kiếm lời thì có người thanh niên không quen biết gọi điện thoại cho H.A hỏi mua 10 bánh pháo nổ, 100 quả pháo trứng với giá 22.500.000đ, H.A đồng ý. Ngày 08/11/2018 nam thanh niên đến gặp H.A và đưa trước cho H.A số tiền 10.000.000đ để mua pháo. Ngày 10/11/2018, H.A đi lên Lào Cai và đi theo đường tiểu ngạch từ thành phố Lào Cai sang Trung Quốc mua 08 bánh pháo và 100 quả pháo trứng với giá 9.600.000đ (H.A không biết cửa hàng bán pháo thuộc địa điểm nào của Trung Quốc vì không biết chữ cũng như tiếng Trung Quốc). Sau đó H.A vận chuyển số pháo trên qua đường tiểu ngạch về Việt Nam. Khi về đến Hà Nam, H.A cho số pháo vào một thùng bìa cát tông, để một lớp gấu bông phủ lên trên và cất tại nơi ở của mình. Do phòng trọ nhỏ nên H.A đã nhờ mẹ đẻ là bà Hoàng Thị V mang thùng bìa cát tông về nhà bà V. H.A nói với bà V đó là thùng quần áo mua về để bán kiếm lời.
Đến sáng ngày 16/11/2018, H.A mang 02 thùng bìa cát tông đựng 02 bánh pháo mà H.A đã mua trước đó đến để ở nhà bà V, sau đó H.A gọi điện hẹn người thanh niên mua pháo đến khu vực nhà bà V để giao pháo. Khoảng 19h30’ ngày 16/11/2018, nam thanh niên đến và cùng H.A đẩy thùng pháo từ trong nhà bà V ra ngoài đường thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát Kinh tế - Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang. Nam thanh niên mua pháo của H.A đã bỏ chạy thoát. Công an đã đưa H.A về lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
Một thùng cát tông có 08 khối pháo hình trụ, kích thước (38x6)cm; 100 quả hình bóng đèn điện gồm khối hình cầu, kích thước 04cm kết nối với khối hình trụ kích thước (02x02)cm, bên ngoài vỏ có chữ nước ngoài nghi là pháo nổ với tổng trọng lượng là 19kg, được niêm phong và đựng trong thùng cát tông kích thước (40x45x55)cm bên ngoài thùng dán giấy niêm phong ký hiệu A1.
Cùng ngày em trai của Dương Thị H.A là Dương Hải Đăng, sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố NS 2, phường CS, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã giao nộp cho cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Hà Nam 02 bánh pháo đựng trong 02 thùng cát tông với tổng trọng lượng là 3,5kg. Gồm: 01 bánh pháo (dạng các khối pháo hình trụ kết nối với nhau qua dây cháy chậm thành bánh), bánh pháo đều màu đỏ, bên ngoài có chữ nước ngoài kích thước (38x6)cm được niêm phong và đựng trong thùng cát tông dán giấy niêm phong ký hiệu A2; 01 bánh pháo (dạng các khối pháo hình trụ kết nối với nhau qua dây cháy chậm thành bánh), bánh pháo đều màu đỏ, bên ngoài có chữ nước ngoài kích thước (38x6)cm được niêm phong và đựng trong thùng cát tông dán giấy niêm phong ký hiệu A3.
Thi hành lệnh khám xét khẩn cấp số 01 ngày 16/11/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam đối với nơi ở của Dương Thị H.A tại số 56, đường TQK, phường LHP, thành phố Phủ Lý không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 971/KTHS ngày 17/11/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận:
- 08 vật cùng loại hình trụ tròn vỏ màu đỏ, mỗi vật có đường kính 40cm, cao 06cm bên trong gồm nhiều quả nhỏ hình trụ kết lại là pháo nổ, khi đốt thì phát tiếng nổ, tổng trọng lượng là 14,844 kg.
- 100 vật hình bóng điện cùng loại, mỗi vật có kích thước dài 6,5cm, đường kính đầu to 4cm, đường kính đầu nhỏ 2,5cm là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng trọng lượng là 3,083kg.
- Mẫu ký hiệu A2 là pháo nổ, khi đốt thì phát ra tiếng nổ, tổng trọng lượng là 1,785 kg.
- Mẫu ký hiệu A3 là pháo nổ, khi đốt thì phát ra tiếng nổ, tổng trọng lượng là 1,817 kg.
Tổng trọng lượng các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3 là 21,529 kg.
Tại bản kết luận giám định số 6546/C09-P2 ngày 22/11/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Các mẫu vật có ký hiệu A1, A2, A3 đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-PL ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Dương Thị H.A về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Dương Thị H.A theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì đối với nội dung vụ án. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Dương Thị H.A từ 05 đến 06 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo đã thu giữ sau giám định.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận bào chữa gì, nhất trí với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Về tội danh nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, song không nhất trí với việc áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự để truy tố bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, bản thân bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị cáo đang bị bệnh nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm tù cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo điểm k khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự và không thay đổi quan điểm như đã trình bày trong phần luận tội đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến về thời gian, địa điểm, diễn biến vụ án, bản kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/11/2018, tại tổ dân phố NS 2, phường CS, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Dương Thị H.A đang cất giữ trái phép 21,529 kg pháo nổ mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang. Số pháo trên do Dương Thị H.A đi theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc mua mang về Việt Nam bán nhằm mục đích kiếm lời.
Hành vi nêu trên của Dương Thị H.A đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Đánh giá về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thị H.A là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước nhất là trong những năm qua Nhà nước ta luôn tuyên truyền nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng, buôn bán các loại pháo. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phủ Lý, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra một bản án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo đang mắc bệnh nặng (suy tim, suy thận độ 4, lupus ban đỏ). Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.
Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, xem xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, Hội đồng xét xử thấy: cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo nhằm thu lời bất chính về kinh tế, song bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, bản thân đang mắc bệnh nặng. Do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 08 bánh pháo, 95 quả pháo hình bóng điện, 02 bánh pháo đựng trong hai thùng cát tông được hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về các tình tiết khác: Đối với người mua pháo của Dương Thị H.A, quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này. Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
¸p dông điểm k khoản 2 ĐiÒu 190; ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; ĐiÒu 50; Điều 47 của Bé luËt h×nh sù.
Áp dụng các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố : Bị cáo Dương Thị H.A phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
[2] Xử phạt bị cáo Dương Thị H.A 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ những ngày đã bị tạm giữ (từ 16/11/2018 đến 19/11/2018).
[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 08 bánh pháo và 95 quả pháo hình bóng điện được đựng trong một thùng cát tông có kích thước (40x45x55)cm bên ngoài thùng có dán giấy niêm phong có chữ ký của giám định viên Ngô Tuấn Anh.
- 01 bánh pháo được đựng trong một thùng cát tông có kích thước (40x30x10)cm bên ngoài thùng có dán giấy niêm phong có chữ ký của giám định viên Ngô Tuấn Anh.
- 01 bánh pháo được đựng trong một thùng cát tông có kích thước (40x30x10)cm bên ngoài thùng có dán giấy niêm phong có chữ ký của giám định viên Ngô Tuấn Anh.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 23/01/2019).
[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Thị H.A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT CA thành phố Phủ Lý; - Chi cục THA DS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo; - Trợ giúp viên pháp lý - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Xuyên |