vanban.org

Bản án 149/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Cao T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Lê Cao T 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 16/5/2026. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Cao T phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cao T - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Cao T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2026/HS-ST
Ngày: 26 - 8 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Duy Phương

Ông Lê Văn Mùi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhung – Kiểm sát viên;

Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2026/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1053/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Cao T, sinh ngày 10/4/1985 tại Thanh Hoá; nơi cư trú: Tổ dân phố H (nay là tổ dân phố T), phường Sn, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038xxxxxx301; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Cao N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án: không.

Nhân thân:

- Ngày 25/4/2013, Chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định về việc đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Đến ngày 01/5/2015 chấp hành xong về địa phương.

- Ngày 15/3/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4), tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/10/2016. Đã chấp hành xong bản án.

- Ngày 06/11/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1), tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Đến ngày 08/4/2020 chấp hành xong về địa phương.

- Ngày 03/8/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4), tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ qảo cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Đến ngày 05/4/2023 chấp hành xong về địa phương.

- Ngày 19/9/2025 Chủ tịch UBND phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định số 04/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, thời hạn 02 năm. Từ ngày 22/9/2025 đến ngày 22/9/2027.

Tiền sự:

- Ngày 16/11/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4), tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ qảo cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Đến ngày 26/5/2025 chấp hành xong về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm tạm giam Hoằng Hóa, Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

Người làm chứng: Anh Lê Văn Quý, sinh năm 1989; Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ dân phố Hải Thành, phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch quản lý người đang áp dụng biện pháp sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. Ngày 14/5/2026 Công an phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá tiến hành triệu tập và làm việc đối với Lê Cao T, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố Hoan Kính, phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá là người đang bị chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 04/QĐ-UBND ngày 19/9/2025 của Chủ tịch UBND phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thời hạn quản lý từ ngày 22/9/2025 đến ngày 22/9/2027, quá trình làm việc Công an phường phối hợp với trung tâm y tế Sầm Sơn tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Lê Cao T để xét nghiệm chất ma túy, kết quả dương tính với ma tuý (Heroin). Tại Cơ quan Công an Lê Cao T khai nhận về hành vi đã sử dụng trái phép chất ma tuý (Heroin) vào ngày 12/5/2026. Công an phường Sầm Sơn đã lập biên bản làm việc để làm căn cứ giải quyết và chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá để giải quyết theo quy định pháp luật.

Cơ quan CSĐT thu thập mẫu nước tiểu của Lê Cao T và niêm phong để trưng cầu giám định chất ma túy trong nước tiểu.

Tại Kết luận giám định số 2301/KL-KTHS ngày 16/5/2026 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý, loại: Morphine, Codeine trong mẫu nước tiêu của Lê Cao T niêm phong gửi đến giám định; Morphine và Codeine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma tuy nhóm Opiat (Thuốc phiện, Heroine....) trong cơ thể

Quá trình điều tra Lê Cao Thái khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 12/5/2026, Thái đang làm dưới khu vực bãi biển phía đông đường Hồ Xuân Hương cạnh khu Tắm tráng 8 thuộc phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá thì gặp một người phụ nữ tên gọi là “Bé”. Quá trình nói chuyện Bé có hỏi Thái lâu nay còn sử dụng ma túy không, Bé vừa mua được “hàng” nên nếu T cần Bé đưa cho một ít (T biết “hàng” mà Bé nói chính là Heroin), nên nói với Bé “Có thì cho anh ít”. Bé nói “chờ một lát”, rồi đi lên trên đường Hồ Xuân Hương, khoảng 05 phút sau Bé đi lại đưa Thái một gói giấy bạc nhỏ và nói “đây”. Thái hiểu ngay bên trong gói giấy bạc này có ma túy. Sau khi đưa ma túy cho Thái thì Bé nói giờ phải đi về khách sạn, xe đến đón rồi và rời đi. Thái cho gói giấy ma túy vào bao thuốc lá cho vào túi quần. Đến khoảng 16 giờ 00 cùng ngày Thái về nhà. Do nhà có một mình nên Thái ngồi ngay ở giường, lấy gói giấy ma túy Bé cho, mở ra thấy bên trong gói giấy bạc có chất bột màu trắng. Thái bóc lấy lớp giấy bạc của bao thuốc lá, cho chất bột trên lên giấy bạc và châm lửa đốt thành khói và hút vào miệng. Sau khi sử dụng xong, Thái vo tròn giấy bạc đã sử dụng vứt ra ngoài đường rồi tiếp tục đi làm.

Tại Cáo trạng số 84/CT-VKSTHA-KV ngày 21/7/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa truy tố Lê Cao T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 BLHS; đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Cao T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức án đề nghị xử phạt Lê Cao T từ 30 tháng đến 33 tháng tù; buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về phần thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Cao T khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ được phản ánh trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ ngày 12/5/2026, tại nhà ở thuộc tổ dân phố Hoan Kính, phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Lê Cao T đã sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức đốt và hít; bị cáo khai chất ma túy đã sử dụng là Heroin. Ngày 14/5/2026, Công an phường Sầm Sơn phối hợp với Trung tâm Y tế Sầm Sơn tiến hành xét nghiệm mẫu nước tiểu của bị cáo, kết quả dương tính với chất ma túy. Kết luận giám định số 2301/KL-KTHS ngày 16/5/2026 xác định trong mẫu nước tiểu của Lê Cao T có Morphine và Codeine, là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy nhóm Opiat trong cơ thể. Tại thời điểm thực hiện hành vi, Lê Cao T đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 19/9/2025 của Chủ tịch UBND phường Sầm Sơn, thời hạn quản lý từ ngày 22/9/2025 đến ngày 22/9/2027.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a BLHS. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Cao T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, không chấp hành các quy định về quản lý, phòng ngừa tái nghiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và công tác quản lý sau cai nghiện, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng đã được xóa án tích; nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Sau khi chấp hành xong biện pháp cai nghiện bắt buộc, bị cáo đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội do đó cần áp dụng Điều 38 BLHS áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định tại Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Cao T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Cao T 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 16/5/2026.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Cao T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ