- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 149 Bùi Thanh H mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2026/HS-ST Ngày 12-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Minh
2. Bà Phạm Thị Thúy Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2026 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa đối với bị cáo:
Bùi Thanh H, sinh năm 1985 tại thành phố Hải Phòng; số CCCD: 031085009041. Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: Số 3c, Tập Thể C Đà Nẵng, phường N, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H1 và bà Phạm Thị T; không có vợ (chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thanh N) và có 02 con; tiền án: Bản án số 13/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Hải An, xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2021, án phí ngày 03/8/2021. Bản án số 195/2021/HS-ST ngày 16/12/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2024; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 04/HSST ngày 02/01/2004 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tính từ ngày 22/8/2003. Bản án số 74/2006/HSST ngày 05/4/2006 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 114/2012/HSST ngày 21/11/2012 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 54 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 23/10/2025 đến ngày 28/10/2025 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 23/10/2025, tại đường A thuộc tổ dân phố C, phường A, thành phố Hải Phòng. Tổ công tác Trạm Cảnh sát giao thông An Hưng Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H tuần tra kiểm soát, phát hiện Bùi Thanh H điều khiển xe môtô Honda biển kiểm soát 26D1-834.75 có nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi dừng lại H đã ném xuống đường 01 túi nilon màu xanh trắng kích thước (18×16) cm, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (4,8×7,2) cm chứa tinh thể màu trắng (mẫu QTA) và 01 túi nilon kích thước (04×07) cm có 20 viên nén hình tròn màu đỏ in chữ WY (mẫu QTB). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, tạm giữ 01 điện thoại di động nắp lưng có hoa văn trắng đen và 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Winner X biển kiểm soát 26D1-374.85 sau đó bàn giao cho Công an phường A.
Kết luận giám định số 1066/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu QTA gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,98gam, loại Methamphetamine. 20 viên nén của mẫu QTB gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,06gam, loại Methamphetamine. Mẫu nước tiểu ghi tên Bùi Thanh H gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine”.
Đối với điện thoại di động thu giữ của Bùi Thanh H, H khai không nhớ mật khẩu. Kết luận giám định số 1800/KL-KTHS ngày 05/5/2026 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Không trích xuất được dữ liệu được lưu trong máy do điện thoại cài đặt mật khẩu”.
Quá trình điều tra Bùi Thanh H, khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng và bán ma túy để kiếm lời, chiều ngày 23/10/2025 H đi xe môtô BKS 26D1-834.75 của H đến đường tàu Trần Nguyên H2 mua của một người nam giới không quen biết 20 viên hồng phiến (loại ma túy đá) với giá 50.000 đồng/01 viên và 01 túi ma túy đá với giá 4.000.000 đồng cầm ở tay rồi đi xe về nhà mục đích chia bán kiếm lời. Khi đến đường A thuộc tổ dân phố C, phường A thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông bắt quả tang thu giữ lượng ma túy như trên. H khai trước đó vào ngày 18 và ngày 21/8/2025 đã bán ma túy đá cho Phạm Đức T1, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố P, phường A, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 18/8/2025, T1 gọi điện cho H hỏi mua 6.800.000 đồng ma túy đá và hẹn giao ma túy ở đường M. Sau đó H đến đường tàu Trần Nguyên H2 mua 6.000.000 đồng được 06gam ma túy đá của người nam giới không quen biết về giao cho T1. Tại đây, T1 trả tiền mặt 5.000.000 đồng và chuyển 1.800.000 đồng cho H vào tài khoản số 0366853685 Ngân hàng TMCP Q của Nguyễn Thanh N (chung sống với H).
- Lần thứ hai: Khoảng hơn 20 giờ ngày 21/8/2025, T1 gọi cho H hỏi mua 11.000.000 đồng ma túy đá, H hẹn giao tại đường Đ, phường N Sau đó H đến đường tàu Trần Nguyên H2 mua 9.500.000 đồng được khoảng 10gam ma túy đá của một nam giới không quen biết, sau đó giao ma túy cho T1 ở điểm hẹn và nhận 11.000.000 đồng tiền mặt. Thuấn mang ma túy về nhà ở tổ dân phố P, phường A tổ chức sử dụng cùng với Trương Văn T2, trú tại phường A; Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thế M cùng trú tại phường A. Chiều ngày 22/8/2025 nhóm của T1 bị Công an phường A bắt quả tang, thu giữ dụng cụ sử dụng chất ma túy bám dính tạp chất màu nâu (niêm phong mẫu QT01) và các túi nilon đều bám dính tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu QT03).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của T1, Cơ quan điều tra thu giữ các túi nilon đều chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu KX01). T1 khai nhận đây đều là ma túy đá mua của H và một số người khác nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ.
Kết luận giám định số 819/KL-KTHS ngày 28/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất màu nâu của mẫu QT01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính. Tinh thể màu trắng của mẫu QT03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,04gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng của mẫu KX01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 22,52gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Vật chứng: Số ma túy và vỏ túi còn lại sau giám định; các vỏ túi nilon; xe môtô 26D1-384.75; điện thoại di động của Bùi Thanh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục quản lý.
Đối với Phạm Đức T1, Trương Văn T2, Nguyễn Văn T3 đã bị xét xử về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Bị cáo T1 còn bị xử vệ tội Mua bán trái phép chất ma túy) tại Bản án số 96/2026/HS-ST ngày 27/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như trên; đồng ý với nội dung Kết luận giám định, không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Cáo trạng số 85/2026/CT-VKSKV2 ngày 01/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng truy tố Bùi Thanh H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng điểm b, i, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt Bùi Thanh H từ 12 năm đến 13 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; thời hạn phạt tù tính từ ngày 23/10/2025; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; buộc bị cáo nộp sung quỹ nhà nước số tiền 17.800.000 đồng bị cáo bán ma túy cho T1 ngày 18 và ngày 21 tháng 8 năm 2025, tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Winner X biển kiểm soát 26D1-374.85; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Hành vi ngày 18/8 và ngày 21/8/2025, Bùi Thanh H đã bán trái phép 16gam ma túy đá cho Phạm Đức T1 tại khu vực đường M, phường A và đường Đ, phường N là phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo bán ma túy cho Thuấn 2 lần nên vi phạm tình tiết Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Loại ma túy bị cáo bán là 16 gam Methamphetamine và cất giấu 7,04 gam Methamphetamine để mục đích bán kiếm lời nên vi phạm tình tiết "Methamphetamine,… có khối lượng từ 05gam đến dưới 30gam" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS. Tại Bản án số 195/2021/HS-ST ngày 16/12/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đã xác định bị cáo tái phạm do chưa được xóa án tích tại Bản án số 13/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Hải An nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên vi phạm tình tiết Tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS. Cáo trạng số 85/2026/CT-VKSKV2 ngày 01/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng truy tố bị cáo là đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi đã thực hiện.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật về phòng chống ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, đạo đức, lối sống, văn hóa và sức khỏe của người khác. Bị cáo không có tiết tăng nặng; do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, xử phạt bị cáo mức án dưới mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét tính chất, hành vi phạm tội, loại tội phạm bị cáo thực hiện và hưởng lợi thực tế; cần phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để nộp sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng gồm: Số ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 6.800.000 đồng bị cáo bán ma túy cho T1 ngày 18/8/2025 và 11.000.000 đồng bị cáo bán ma túy cho T1 ngày 21/8/2025 là tiền thu lợi bất chính cần truy thu nộp sung công quỹ Nhà nước; 01 điện thoại di động nắp lưng có hoa văn trắng đen bị cáo dùng liên lạc mua bán ma túy, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Winner X biển kiểm soát 26D1-374.85 của bị cáo mua lại đã dùng đi mua ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về những vấn đề khác: Bùi Thanh H sử dụng tài khoản số 0366853685 của Nguyễn Thanh N mở tại Ngân hàng TMCP Q để nhận tiền mua ma túy, nhưng N không biết H dùng tài khoản của mình để giao dịch bán ma túy và không biết H bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Bùi Thanh H khai mua ma túy của những người nam giới không quen biết ở khu vực đường tàu Trần Nguyên H2; Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nhưng không trích xuất được dữ liệu lưu trong điện thoại thu giữ của H; kết quả tra cứu giao dịch chuyển khoản ngân hàng, không có căn cứ xác định được H mua chất ma túy của ai và bán cho ai khác ngoài Phạm Đức T1 nên không có cơ sở điều tra là có căn cứ. Đối với hành vi sử dụng chất ma túy của Bùi Thanh H, kết quả xác minh H không đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b, i, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thanh H 11 (Mười một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23/10/2025.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thanh H 5.000.000 đồng để nộp sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Winner X biển kiểm soát 26D1-374.85. Truy thu của bị cáo Bùi Thanh H số tiền 17.800.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Phạm Đức T1 ngày 18/8/2025 và ngày 21/8/2025 để sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Bùi Thanh H phải chịu 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - THADS thành phố Hải Phòng - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 2 - Hải Phòng; - Trại tạm giam CATP Hải Phòng; - Phòng PV 06, PC 10 CATP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |