- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "y hôn, tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Quỳnh Phương Nh.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:149/2026/HNGĐ - ST Ngày: 07/05/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Thế Cần
Ông Hoàng Ngọc Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thành - Thư ký tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 05 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1205/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/12/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 03 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Quỳnh Phương Nh, sinh ngày 08/03/2002
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 20/08/2022; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH.
Địa chỉ: Nhà không số, tổ 34, khu phố 3, phường Trảng D, Thành phố Đồng Nai (địa chỉ cũ: Nhà không số, tổ 34, khu phố 3, phường Trảng D, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai).
- Bị đơn: Ông Vũ Phạm Đức L, sinh năm 2000
Địa chỉ: 34F/34, khu phố 5, phường Long B, Thành phố Đồng Nai (địa chỉ cũ: 34F/34, khu phố 5, phường Hố N, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai).
(Bà Nh, ông L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Lê Quỳnh Phương Nh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian quen biết và tìm hiểu bà Lê Quỳnh Phương Nh và ông Vũ Phạm Đức L phát sinh tình cảm và quyết định đi đến hôn nhân. Vào năm 2022 bà Lê Quỳnh Phương Nh và ông Vũ Phạm Đức L quyết định đi đến hôn nhân và đã được Ủy ban nhân dân phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Long Bình, Thành phố Đồng Nai) cấp giấy chứng nhận kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không có sự cưỡng ép. Từ khi kết hôn vợ chồng ông bà đã có những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân nhưng cả hai đã cố gắng khắc phục để tiếp tục cuộc sống vợ chồng. Thế nhưng những mâu thuẫn đó ngày càng trầm trọng và gay gắt hơn. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp và không còn thương yêu nhau. Nay xét thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã hết sức trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích xây dựng cuộc hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Lê Quỳnh Phương Nh yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Phạm Đức L để hai bên ổn định cuộc sống.
* Về con chung: Có 01 con chung tên Vũ Lê An Nh, sinh ngày 05/5/2023. Khi bà Lê Quỳnh Phương Nh xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nh đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, không yêu cầu ông Vũ Phạm Đức L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về án phí: Bà Lê Quỳnh Phương Nh xin tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Vũ Phạm Đức L nhưng ông Vũ Phạm Đức L không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Quỳnh Phương Nh và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời ông Vũ Phạm Đức L đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Vũ Phạm Đức L không đến Tòa án làm việc.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Lê Quỳnh Phương Nh và ông Vũ Phạm Đức L không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Quỳnh Phương Nh. Bà Lê Quỳnh Phương Nh khai có 01 con chung là cháu Vũ Lê An Nh, sinh ngày 05/5/2023, hiện nay con đang sống cùng bà. Ly hôn bà Lê Quỳnh Phương Nh xin được trực tiếp nuôi con. Tạm thời không yêu cầu ông Vũ Phạm Đức L phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Vũ Phạm Đức L không đến Tòa và cũng không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Lê An Nh, sinh ngày 05/5/2023 cho bà Lê Quỳnh Phương Nh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Vũ Phạm Đức L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Lê Quỳnh Phương Nh khai tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Vũ Phạm Đức L cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Quỳnh Phương Nh và ông Vũ Phạm Đức L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Vũ Phạm Đức L hiện đang sinh sống tại phường Long B, Thành phố Đồng Nai nên đơn xin ly hôn của bà Lê Quỳnh Phương Nh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai. Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Vũ Phạm Đức L “Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”, “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Vũ Phạm Đức L vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Vũ Phạm Đức L đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Vũ Phạm Đức L cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Vũ Phạm Đức L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Vũ Phạm Đức L vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Vũ Phạm Đức L theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà Lê Quỳnh Phương Nh là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung tranh chấp: Bà Lê Quỳnh Phương Nh yêu cầu ly hôn với ông Vũ Phạm Đức L. Về con chung bà Lê Quỳnh Phương Nh khai có 01 (một) con chung là cháu Vũ Lê An Nh, sinh ngày 05/5/2023, hiện nay con đang sống cùng bà Lê Quỳnh Phương Nh. Ly hôn bà Lê Quỳnh Phương Nh xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Tạm thời không yêu cầu ông Vũ Phạm Đức L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận và bà Lê Quỳnh Phương Nh cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông Vũ Phạm Đức L đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Vũ Phạm Đức L không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Lê Quỳnh Phương Nh và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy ông Vũ Phạm Đức L và bà Lê Quỳnh Phương Nh cuộc sống chung không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Ông Vũ Phạm Đức L và bà Lê Quỳnh Phương Nh đã sống riêng, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.Trên thực tế, bà Lê Quỳnh Phương Nh và ông Vũ Phạm Đức L không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Vũ Phạm Đức L để tiến hành hòa giải nhưng ông Vũ Phạm Đức L không đến, cho thấy ông Vũ Phạm Đức L không có thiện chí đoàn tụ với bà Lê Quỳnh Phương Nh. Do vậy yêu cầu của bà Lê Quỳnh Phương Nh về việc xin ly hôn với ông Vũ Phạm Đức L là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Lê Quỳnh Phương Nh khai có có 01 (một) con chung là cháu Vũ Lê An Nh, sinh ngày 05/5/2023 và hiện nay đang sống cùng bà Lê Quỳnh Phương Nh. Ly hôn bà Lê Quỳnh Phương Nh xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dượng và giáo dục con chung. Tạm thời không yêu cầu ông Vũ Phạm Đức L phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Vũ Phạm Đức L đã được Tòa án thông báo và triệu tập nhiều lần nhưng ông Vũ Phạm Đức L vẫn không đến Tòa làm việc và cũng không có ý kiến về vấn đề nuôi con chung và cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Vũ Lê An Nh, sinh ngày 05/5/2023 cho bà Lê Quỳnh Phương Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con do bà Lê Quỳnh Phương Nh không yêu cầu nên ông Vũ Phạm Đức L tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Lê Quỳnh Phương Nh khai tự thỏa thuận và ông Vũ Phạm Đức L không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản chung vụ án này.
Về nợ chung: Bà Lê Quỳnh Phương Nh khai không có nợ chung và ông Vũ Phạm Đức L không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết về nợ chung trong vụ án này.
Về án phí: Bà Lê Quỳnh Phương Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 119 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Quỳnh Phương Nh. Bà Lê Quỳnh Phương Nh được ly hôn với ông Vũ Phạm Đức L.
2. Về con chung: Có 01 (một) con chung là cháu Vũ Lê An Nh, sinh ngày 05/5/2023. Giao cháu Vũ Lê An Nh cho bà Lê Quỳnh Phương Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời ông Vũ Phạm Đức L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Vũ Phạm Đức L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Bà Lê Quỳnh Phương Nh khai tự thỏa thuận và ông Vũ Phạm Đức L không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.
4. Về nợ chung: Bà Lê Quỳnh Phương Nh khai không có và ông Vũ Phạm Đức L không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về nợ chung trong vụ án này.
5. Về án phí: Bà Lê Quỳnh Phương Nh phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Lê Quỳnh Phương Nh đã nộp theo biên lai thu số: 0009880 ngày 01/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Nai) Bà Lê Quỳnh Phương Nh đã nộp đủ án phí..
Bà Lê Quỳnh Phương Nh và ông Vũ Phạm Đức L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND Thành phố Đồng Nai; -VKSND khu vực 1- Đồng Nai; -VKSND Thành phố Đồng Nai; -Các đương sự; -Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Nai;; -Lưu hồ sơ, Vp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Hồng Ngọc |