- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Huỳnh Tấn B_Bà Hồ Thị H"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2026/DS-ST Ngày: 25-8-2026 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Ngọc Phụng.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/8/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 339/2026/TLST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 345/2026/QĐXXST-DS ngày 04/8/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn B, sinh năm: 1978. CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Số B V, khu vực Chùa D, phường P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: Số F L, khu vực Chùa D, phường P, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1980. CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Số C L, khu V, phường S, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/6/2026 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án,người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Do quen biết nên ngày 06/4/2025 ông Huỳnh Tấn B có cho bà Hồ Thị H vay số tiền 90.000.000 đồng để kinh doanh mua bán, bà H có làm biên nhận viết tay cho ông B. Hai bên thỏa thuận miệng thời hạn cho vay tiền là 06 tháng (đến 06/10/2025), lãi suất vay tiền là 2%/1tháng.
Tuy nhiên, từ ngày 06/4/2025 đến nay thì bà H không trả số tiền đã vay cũng như tiền lãi cho ông B dù ông B đã nhiều lần liên hệ nhưng bà H cứ né tránh, không có thiện chí hợp tác giải quyết.
Nay ông Huỳnh Tấn B yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Hồ Thị H trả cho ông B số tiền vốn và lãi vay là 114.950.000 đồng (trong đó tiền vốn vay là 90.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm, tính từ ngày 06/4/2025 đến 25/8/2026 là 16 tháng 19 ngày với số tiền 24.950.000 đồng).
Bị đơn bà Hồ Thị H trình bày:
Bà Hồ Thị H thừa nhận vào năm 2025 bà H có vay của ông Huỳnh Tấn B nhiều lần, việc giao tiền không có làm biên nhận. Đến ngày 06/4/2025 ông B cộng dồn số tiền vay lại tổng cộng 90.000.000 đồng và yêu cầu bà H làm Giấy mượn tiền của ông B số tiền 90.000.000 đồng. Bà H thừa nhận Giấy mượn tiền lập ngày 06/4/2025 do bà H tự viết và ký tên.
Theo bà H khi vay, hai bên không thoả thuận thời hạn vay, thoả thuận trả lãi mỗi tháng 30%. Sau khi vay bà H đã trả lãi cho ông B nhiều lần bằng tiền mặt với số tiền 24.000.000 đồng (bà H đưa tiền trực tiếp cho bà Nguyễn Thị H1, vợ ông B nhận), việc trả tiền hai bên không có làm biên nhận, nên bà H không nhớ cụ thể thời gian trả. Ngoài ra, bà H còn trả lãi cho ông B bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của Cửa hàng B, đường H, phường P, thành phố Cần Thơ đến số tài khoản 7420260583 tại Ngân hàng TMCP Đ do bà Nguyễn Thị H1 đứng tên.
Đối với số tiền lãi bà H đã trả cho ông B, do hiện nay bà H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên bà H không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Nay qua yêu cầu của ông B thì bà H chỉ đồng ý trả số tiền vốn vay 90.000.000 đồng theo biên nhận.
Đối với số tiền lãi theo yêu cầu của ông B thì bà H đề nghị ông B được miễn trả lãi vì hiện nay bà H gặp khó khăn về kinh tế. Bà H mới bị tai nạn giao thông đến nay chưa bình phục.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Huỳnh Tấn B khởi kiện bị đơn bà Hồ Thị H, địa chỉ số C L, khu V, phường S, thành phố Cần Thơ trả lại số tiền vốn và lãi vay là 114.950.000 đồng. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn cư trú tại phường S, thành phố Cần Thơ nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
Về nội dung:
. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, bị đơn bà Hồ Thị H thừa nhận vào ngày 06/4/2025, bà H có làm biên nhận vay của ông Huỳnh Tấn B số tiền 90.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Hội Đồng xét xử xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
. Theo bà H trình bày trong năm 2025, bà vay tiền của ông B nhều lần, đến ngày 06/4/2025 ông B mới cộng dồn lại thành tổng số tiền vốn vay là 90.000.000 đồng và yêu cầu bà viết biên nhận nợ. Tuy nhiên phía bà H không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh là bà vay của ông B nhiều lần cộng dồn thành số tiền 90.000.000 đồng. Mặc khác phía ông B cho rằng ông giao tiền cho bà H một lần với số tiền 90.000.000 đồng vào ngày 06/4/2025. Xét thấy lời trình bày của phía ông B phù hợp với Giấy nhận nợ ngày 06/4/2025 do đó, có cơ sở xác định trên thực tế giữa ông Huỳnh Tấn B với bà Hồ Thị H có giao kết hợp đồng vay tài sản để vay số tiền là 90.000.000 đồng, các bên tiến hành giao kết Hợp đồng trên nguyên tắc tự nguyện, hình thức và nội dung Hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật, do đó hợp đồng trên có giá trị pháp lý và buộc các bên phải thực hiện theo đúng hợp đồng. Xét thấy theo hợp đồng thì bà H vay của ông B số tiền vốn vay là 90.000.000 đồng. Hai bên thừa nhận thoả thuận trả lãi hàng tháng. Tuy nhiên, sau khi vay bà H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi vay cho ông B theo đúng thỏa thuận nên đã vi phạm vào Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó việc ông B khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền vốn vay 90.000.000 đồng và bà H cũng đồng ý trả số tiền trên cho ông B là phù hợp pháp luật nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu của ông B về việc yêu cầu bà H trả số tiền lãi 24.950.000 đồng thì thấy, tại phiên Toà phía ông B cho rằng hai bên thoả thuận lãi suất 2%/tháng, còn phía bà H cho rằng lãi suất thoả thuận 30%/tháng, xét thấy theo Giấy mượn tiền ngày 06/4/2025 hai bên thoả thuận mức lãi suất 2%/tháng, tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Lãi suất cho vay do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...Trường hợp lãi suất theo thoả thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực” do các bên thoả thuận mức lãi suất cao hơn so với quy định nên việc ông B yêu cầu tính lãi suất theo mức lãi suất 20%/năm là phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể lãi từ ngày 06/4/2025 đến 25/8/2026 là 90.000.000 đồng x 20%/năm x 16 tháng 19 ngày thành số tiền 24.950.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền vốn và lãi mà bà H có nghĩa vụ trả cho ông B 114.950.000 đồng.
. Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của ông Huỳnh Tấn B được chấp nhận nên bị đơn bà Hồ Thị H phải chịu án phí số tiền 5.747.500 đồng. Nguyên đơn ông Huỳnh Tấn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn B.
Buộc bà Hồ Thị H trả cho ông Huỳnh Tấn B số tiền vốn và lãi vay là 114.950.000 đồng (trong đó tiền vốn vay là 90.000.000 đồng và tiền lãi vay là 24.950.000 đồng).
Kể từ ngày ông Huỳnh Tấn B có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Hồ Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Thị H phải chịu số tiền 5.747.500 đồng.
Hoàn trả cho ông Huỳnh Tấn B số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.805.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0000212 ngày 03/7/2026 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 – Cần Thơ.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36, 72 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND KV5 -CT;
- TA TP Cần Thơ;
- Lưu HS.
Nguyễn Thị Thúy Uyên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Phụng Nguyễn Thị Thanh T1 Nguyễn Thị Thúy U
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND KV5 -CT; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Uyên |