vanban.org

Bản án 149/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội giao cấu với trẻ em (điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 145 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:149/2025/HS-ST
Ngày 19/11 /2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hồng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Tuyến- Phó hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Võ Thị Sáu - Đặc Khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh

Và bà Đoàn Thị Lan - Nguyên giáo viên trường Trung học phổ thông Võ

Thị Sáu - Đặc Khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Bùi Hữu Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2025/HS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

-Phan Bé N, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2006; tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Khóm 1, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nơi ở trước khi bị bắt khu 9, huyện Công Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Đặc Khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; con ông: Phan Trường G, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1985; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh, chị em.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 23/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Côn Đảo - Công an Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị hại: Cháu Nguyễn Ngọc Kim Y, sinh ngày 05/6/2009

Địa chỉ: Khu dân cư số 5, Đặc khu Côn Đảo - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1991(có mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư số 5, Đặc khu Côn Đảo - Thành phố Hồ Chí Minh.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Yến: Bà Đinh Thị M -

Chức vụ phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Đặc khu Côn Đảo – Thành phố Hồ Chí Minh( có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 05/2024, thông qua ứng dụng Facebook, Phan Bé N; nơi thường trú: Khóm 1, xã Phan Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện nay: Khu dân cư số 9, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh; làm quen với cháu Nguyễn Ngọc Kim Y,sinh ngày 05/06/2009 cư trú tại: Nhà trọ Lê Thị Cẩm Tú, đường Nguyễn Văn Linh, khu dân cư số 5, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến đầu tháng 07/2024, Phan Bé N và Nguyễn Ngọc Kim Y nảy sinh tình cảm và có hành vi quan hệ tình dục với nhau nhiều lần tại nhà của của Ngoan, thuộc khu dân cư số 9, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Giữa tháng 07/2024, N nhắn tin qua Facebook rủ Y đi chơi, Y đồng ý, N đến phòng trọ của Y đón Y đi chơi, sau đó chở Y về nhà N trên đường Lưu Chí Hiếu, thuộc khu dân cư số 9, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh. N và Y vào phòng ngủ của N, tại đây Phan Bé N đã có hành vi quan hệ tình dục với Nguyễn Ngọc Kim Y

Lần thứ hai: Đầu tháng 8/2024, N đến phòng trọ chở Y đi chơi, sau đó chở về nhà Ngoan trên đường Lưu Chí Hiếu, thuộc khu dân cư số 9, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh tại đây N đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Y.

Tiếp sau đó, trong khoảng thời gian từ giữa tháng 08/2024 đến đầu tháng 11/2024, N và Y tiếp tục quan hệ tình dục với nhau nhiều lần tại nhà của N trên đường Lưu Chí Hiếu, thuộc khu dân cư số 9, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi chia tay nhau.

Sau khi chia tay với Phan Bé Nn, qua ứng dụng Facebook, Nguyễn Ngọc Kim Y quen biết Trần Văn Phước ,sinh ngày 01/6/2008, nơi thường trú: ấp Ngọc Thạch, xã Thạnh Hưng, tỉnh An Giang Giang; nơi ở hiện nay: khu dân cư số 3, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh. Y và P gặp mặt và nảy sinh tình cảm yêu thương nhau. Trong thời gian quen Y, P đã có hành vi quan hệ tình dục với Y hai lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày đầu tháng 11/2024, Yến ngồi uống nước tại quán cà phê Ngộ, trên đường Nguyễn Huệ, thuộc khu dân cư số 8, huyện Côn Đảo. Lúc này, P đến ngồi uống nước cùng Y, khoảng 10 phút thì chở Y đi chơi rồi chở về phòng trọ của P trên đường Hồ Văn Mịch, thuộc khu dân cư số 3, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Phước và Yến lên gác phòng trọ của P, tại đây P đã có hành vi quan hệ tình dục với Y.

Lần thứ hai: Vào khoảng 14 giờ, ngày cuối tháng 11/2024, Y ngồi uống nước tại quán cà phê Ngộ và nhắn tin qua Facebook cho P đến đón về phòng trọ chơi. Phước đến chở Y về phòng trọ trên đường Hồ Văn Mịch, thuộc khu dân cư số 3, đặc khu Côn Đảo, Thành Phố Hồ Chí Minh, cả hai lên gác nằm để nói chuyện, sau đó P đã có hành vi quan hệ tình dục với Y.

Đến tháng 12/2024, Y chia tay với P và quay lại mối quan hệ yêu thương với N và tiếp tục quan hệ tình dục với nhau 01 lần tại nhà N.

Ngày 16/04/2025 bà Nguyễn Thị Ngọc T là mẹ của Y đến Đồn Công an Côn Đảo;nay là Công an đặc khu Côn Đảo tố giác Phan Bé N và Trần Văn P đã có hành vi quan hệ tình dục với con gái của bà là Nguyễn Ngọc Kim Y.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Bé Ngoan đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận giám định xâm hại tình dục số: 163/KLTDTE-PYBRVT ngày 02/06/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám lâm sàng: Như đã mô tả ở trên

- Xét nghiệm máu: Chưa phát hiện bất thường.

- Xét nghiệm tìm tinh trùng: Không thấy tinh trùng trong dịch âm đạo.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án: Không

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngoan chưa bồi thường.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV11 ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

+ Bị cáo Phan Bé N tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Phan Bé N xác nhận vào tháng 7 và vào tháng 8 và tháng 11 năm 2024 tại phòng trọ của bị cáo tại khu dân cư số 9 - Đặc khu Côn Đảo,Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo Ngoan đã quan hệ tình dục với Nguyễn Ngọc Kim Y nhiều lần.

Bị cáo Ng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo.

Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Phan Bé N về tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

+ Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng về hình phạt: Đối với bị cáo Phan Bé N:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Ngoan từ 03(ba) nam đến 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa đại diện hợp pháp cho người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng), bị cáo đồng ý bồi thường đề nghị ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí MInh và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo được xác định như sau:

Căn cứ lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Phan Bé N, bản kết luận giám định, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Tòa thể hiện bị cáo Phan Bé N từng 02( hai) lần giao cấu với Nguyễn Ngọc Kim Y tại phòng trọ nơi N ở tại ku 9 - Đặc Khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 và vào tháng 8 và tháng 11 năm 2024; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Về tội danh: Bị cáo Phan Bé Ngoan bị truy tố về tội “Giao cấu với người tử đủ 13 tuổi đến đưới 16 tuổi” điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Qua tài liệu thu thập có trong hồ sơ; thể hiện bị cáo Phan Văn Bé N, sinh ngày 15/5/2006, tính đến ngày thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Nguyễn Ngọc Kim Y vào tháng 07/2024, bị cáo Ngoan đã trên 18 tuổi.

Tại thời điểm N thực hiện hành vi giao cấu với Y; Y có độ tuổi trên 15 nhưng dưới 16 tuổi.

Nhận thấy; thông qua ứng dụng Facebook bị cáo Phan Bé N làm quen với cháu Nguyễn Ngọc Kim Y; cư trú tại: Nhà trọ Lê Thị Cẩm Tú, đường Nguyễn Văn Linh, khu dân cư số 5, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo N và Y nảy sinh tình cảm và bị cáo N có hành vi quan hệ tình dục với Y nhiều lần tại nhà của của Ngoan, thuộc khu dân cư số 9, Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Giữa tháng 07/2024, bị cáo N nhắn tin qua Facebook rủ Y đi chơi, bị cáo N đến phòng trọ của Y chở Y đi chơi, sau đó chở Y về nhà bị cáo N trên đường Lưu Chí Hiếu, thuộc khu dân cư số 9, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh; tại đây Phan Bé Nđã có hành vi quan hệ tình dục với Nguyễn Ngọc Kim Y.

Lần thứ hai: Đầu tháng 8/2024, N đến phòng trọ chở Y đi chơi, sau đó chở về nhà N trên đường Lưu Chí Hiếu, thuộc khu dân cư số 9, đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo N đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Yến và đến thàng 11/2024 tại nhà của bị cáo N; N nhiều lần quan hệ tình dục với Y.

Hội đồng xét xử xét thấy; hành vi của bị cáo Phan Bé N đã thực hiện như trên đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội; xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bị hại.

Quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên còn gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, thể chất, tâm lý; có thể lây các bệnh truyền qua đường tình dục, mang thai ngoài ý muốn, tổn thương tâm lý, ảnh hưởng tới việc học tập và các vấn đề về xã hội; vì cơ thể, tâm sinh lý của độ tuổi của người bị hại chưa phát triển hoàn thiện; chưa đủ nhận thức hậu quả xảy ra cho bản thân và gia đình người bị hại.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phan Bé N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; chỉ có tình tiết tăng nặng định khung.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo Phan Bé N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tại phiên Tòa đại diện hợp pháp cho người bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà T và bà M có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho người bị cáo xét thấy có đủ căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Ngọc Kim Y số tiền 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng:Không

Đối với Trần Văn P; P có quan hệ tình dục với Y nhưng tính tới tháng 11 năm 2024, thời điểm P quan hệ tình dục với Y; P chưa đủ tuổi vị thành niên, mới 16 tuổi 06 tháng; Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy tố P là đúng quy định của pháp luật; nhưng chưa áp dụng biện pháp xử lý về hành chính đối với Trần Văn P; do đó Hội đồng xét xử sơ thẩm đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý về hành chính theo quy định đối với Trần Văn P.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14; bị cáo Ngoan phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về án phí DSST: Căn cứ điểm c Điều 23 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14; bị cáo Ngoan phải nộp 1.000.000đ(một triệu đồng)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Phan Bé N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” ;

+ Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phan Bé N 03 (ba) năm tù về tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2025.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Bé N có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Ngọc Kim Y số tiền 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng).

Án phí HSST: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a , điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án:Bị cáo Phan Bé N phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Án phí DSST: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phan Bé N phải nộp 1.000.000đ(một triệu đồng)

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo; đại diện hợp pháp người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ