- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thúy - Nam"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ông Kim T2; Xử cho chị Ông Kim T2 được ly hôn với anh Lâm Vũ N
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/12/2025 (V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng
Các hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Nguyễn Minh Hoàng
2/. Ông Nguyễn Văn Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duy, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 316/2025/TLST - HN ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: chị Ông Kim T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp S, xã T, tỉnh Vĩnh Long
2/. Bị đơn: anh Lâm Vũ N, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau
(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh N vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 11/8/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Ông Kim T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng cưới nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn theo chị T xác định: thời gian đầu sống chung với nhau thì cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc. Nhưng thời gian sau cuộc sống của vợ chồng ngày càng căng thẳng, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 11/2024 đến nay, trong thời gian này cả hai đều không liên lạc, quan tâm thăm hỏi nhau. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu ly hôn.
Về quan hệ con chung: chị Ông Kim T xác định thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 người con chung tên Lâm Chấn T1, sinh ngày: 20/9/2018, con đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Đối với anh Lâm Vũ N: Mặc dù anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh N vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án, và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh N theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Lâm Vũ N chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: giữa chị T và anh N kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định của pháp luật;
Về con chung: Chị T và anh N thống nhất xác định thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 người con chung tên Lâm Chấn T1, sinh ngày: 20/9/2018, con đang sống với chị T. Từ khi ly thân đến nay, con chung sống với chị T, chị T vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao người 01 người con chung tên Lâm Chấn T1, sinh ngày: 20/9/2018 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Ong Kim T2 có yêu cầu anh Lâm Vũ N cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Qua đó mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với người con.
Do đó buộc anh Lâm Vũ N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con số tiền 3.450.000/2 = 1.725.000 đồng/tháng/1 người con cho đến khi cháu Lâm Chấn T1 đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2025.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T2 và anh N xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí thì Chị T2 phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị T2 có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh N. Anh N có địa chỉ cư trú tại xã L, tỉnh Cà Mau. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.
Chị T2 có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với Chị T2 và anh N.
Anh N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh N vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N.
Về nội dung vụ án: giữa Chị T2 và anh N kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2020 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của Chị T2 đối với anh N thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống Chị T2 và anh N lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân trong nhiều tháng qua. Trong thời gian này cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Điều này chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của Chị T2 và anh N là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T2 đối với anh N là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật
Về nuôi con chung: Từ lúc chị T2 và anh N ly thân thì người con là Lâm Chấn T1, sinh ngày: 20/9/2018 sống cùng với chị T2 đến nay. Chị T2 vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao người con là Lâm Chấn T1, sinh ngày: 20/9/2018 cho chị T2 được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Ong Kim T2 có yêu cầu anh Lâm Vũ N cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Qua đó mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với người con.
Do đó buộc anh Lâm Vũ N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con số tiền 3.450.000/2 = 1.725.000 đồng/tháng/1 người con cho đến khi cháu Lâm Chấn T1 đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2025.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T2 và anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận,
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ông Kim T2; Xử cho chị Ông Kim T2 được ly hôn với anh Lâm Vũ N
2/. Về nuôi con chung: giao người con là Lâm Chấn T1, sinh ngày: 20/9/2018 cho chị T2 được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Con đang sống với chị T2 được giữ nguyên.
Anh N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở
Buộc anh Lâm Vũ N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con số tiền 1.725.000 đồng/tháng/1 người con cho đến khi cháu Lâm Chấn T1 đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2025.
3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: chị Ông Kim T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001173 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cà Mau. Anh N chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Ô Kim T và anh Lâm Vũ N biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Khu vực 8; - Phòng THADS Khu vực 8; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | Lưu Hải Đăng |