- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số:149/2025/DSST Ngày: 28/08/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tự Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Long và bà Lê Thị Thu Hạnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2025/TLST- DS ngày 05 tháng 05 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:17/2025/QĐXX ngày 18/07/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐ- HPT ngày 07/08/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
Trụ sở: Số X phố L, phường L, quận Đống Đa, TP. Hà Nội (Nay là phường Đ, TP. Hà Nội)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vương Văn T, chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ, ông Ngô Chí T1 và ông Phạm Quang H, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ theo Văn bản ủy quyền số 127/2025/UQ-KHCN ngày 29/07/2025 của ông Nguyễn Hồng B, chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ trên cơ sở Văn bản ủy quyền số 30/2025/UQN-CTQT ngày 28/07/2025 của ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng TMCP V
(Ông Văn T, Chí T1 và ông H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội (nay là thôn T, phường T, TP. Hà Nội).
(Chị H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là VPBank) do ông Phạm Quang H trình bày:
Chị Vũ Thị H1 vay vốn VPBank với Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 20/02/2023. Nội dung: mã số thẻ trên hệ thống 298-P-3474793, hạn mức sử dụng của thẻ tín dụng: 360.000.000 đồng, loại thẻ: Platinum Cashback MasterCard, thời hạn vay: 60 tháng, mục đích sử dụng vốn vay: Vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất thẻ tại thời điểm vay là 35,88%/năm tương đương với 2,99%/tháng theo quy định tại quyết định số 800/2022/GĐ-GĐK ngày 20/10/2022.
Quá trình thực hiện Hợp đồng trên, chị H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 4.681.752.452 đồng, đã trả được 4.321.806.387 đồng, sau đó đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, kể từ ngày 12/04/2024 khoản vay chuyển sang quá hạn.
Tính đến ngày 26/08/2025, chị H1 còn nợ VPBank tổng số tiền là 636.025.491 đồng, gồm: Nợ gốc: 359.946.065 đồng, Nợ lãi quá hạn: 266.435.430 đồng, Lãi chậm trả: 36.643.996 đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc chị H1 phải thanh toán cho VPBank toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, tổng số tiền nợ tính đến ngày 26/08/2025 là 636.025.491 đồng, gồm: Nợ gốc: 359.946.065 đồng, Nợ lãi quá hạn: 266.435.430 đồng, Lãi chậm trả: 36.643.996 đồng.
- Kể từ ngày 27/8/2025, chị H1 tiếp tục phải chịu lãi suất theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
- Trường hợp chị H1 không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, VPBank được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên phát mại tài sản của chị H1 để thu hồi khoản nợ vay.
* Chị Vũ Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai.
Tại phiên tòa:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Bị đơn là chị Vũ Thị H1 vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội phát biểu ý kiến:
Tòa án thụ lý vụ án theo đúng quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán đã xác định đúng và đầy đủ tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn, bị đơn. Về thu thập tài liệu chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 97, Điều 208, Điều 209, Điều 210, Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là chị Vũ Thị H1 mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP V đối với chị Vũ Thị H1
2. Buộc chị Vũ Thị H1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm tính đến ngày 26/08/2025 gồm: Nợ gốc: 359.946.065 đồng, Nợ lãi quá hạn: 266.435.430 đồng, Lãi chậm trả: 36.643.996 đồng. Tổng cộng: 636.025.491 đồng.
Buộc chị Vũ Thị H1 tiếp tục phải trả lãi theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 20/02/2023 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản vay.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về thẩm quyền: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V có đơn khởi kiện yêu cầu chị Vũ Thị H1 trả tiền nợ vay. Căn cứ vào Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 20/02/2023 giữa Ngân hàng và chị Vũ Thị H1 đã xác lập quan hệ tín dụng vay tài sản, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân. Do đó, Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu chị Vũ Thị H1 trả số tiền nợ thẻ tín dụng gồm nợ gốc và lãi còn nợ. Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Chị Vũ Thị H1 có nơi thường trú tại: Thôn T, xã T, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội (nay là thôn T, phường T, TP. Hà Nội). Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội có thẩm quyền giải quyết vụ án.
. Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Vũ Thị H1 : Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải nhưng chị H1 đều vắng mặt không có lý do.
Ngày 18/07/2025, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXX và ấn định phiên tòa được mở vào hồi 15 giờ 00’ ngày 07/08/2025. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được tống đạt hợp lệ cho chị H1. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 07/08/2025, chị H1 không có mặt. Tòa án ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định phiên tòa tiếp theo được mở vào hồi 15 giờ 00’ ngày 28/08/2025. Quyết định hoãn phiên tòa được tống đạt hợp lệ cho chị H1 theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 28/08/2025, chị H1 vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời đại diện nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V
Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 20/02/2023 do Ngân hàng cung cấp cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở xác định giữa chị Vũ Thị H1 và Ngân hàng có quan hệ vay tiền qua hình thức sử dụng thẻ tín dụng.
Các văn bản tín dụng trên đều được các bên ký kết tự nguyện, những người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền, nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội, hình thức của hợp đồng, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và các văn bản tín dụng khác phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, chị đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 4.681.752.452 đồng, đã trả được 4.321.806.387 đồng. Như vậy chị H1 còn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 359.946.065 đồng. Do chị H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn kể từ ngày 12/04/2024. Do đó số tiền nợ gốc chị H1 phải trả cho Ngân hàng là 359.946.065 đồng như đại diện Ngân hàng trình bày là có cơ sở
Đối với khoản tiền lãi, đến ngày 12/04/2024, chị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay chuyển sang nợ quá hạn. Theo quy định tại Điều 3 Phần B của Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần và/hoặc vay theo hạn mức về lãi suất, phí và các chi phí khác quy định: “2. Lãi xuất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản nợ gốc của khách hàng bị chuyển quá hạn đến khi khách hàng thanh toán hết nợ gốc quá hạn. 3. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.”
Ngân hàng xác định chị H1 còn nợ lãi quá hạn tạm tính kể từ ngày 12/04/2024 đến ngày 26/08/2025, cụ thể như sau: 359.946.065 đồng x (35,88%/năm x 150% x 502 ngày)/365= 266.435.430 đồng
Lãi chậm trả là 266.435.430 đồng x (10% x 502 ngày)/365 = 36.643.996 đồng
Do đó Ngân hàng yêu cầu chị H1 phải trả tổng số tiền nợ gốc và lãi quá hạn tạm tính đến ngày 26/08/2025 gồm: Nợ gốc: 359.946.065 đồng; Nợ lãi quá hạn: 266.435.430 đồng và lãi chậm trả là 36.643.996 đồng. Tổng cộng: 636.025.491 đồng là có cơ sở chấp nhận. Buộc chị H1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Chị Vũ Thị H1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 01/08/2023, kể từ ngày 27/08/2025 cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 90; 91; 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
Về án phí: Chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trả lại Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 90; 91; 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- Các Điều 119, 429, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
Buộc chị Vũ Thị H1 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP V theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 20/02/2023 số tiền tạm tính đến ngày 26/08/2025, các khoản gồm: Nợ gốc: 359.946.065 đồng; Nợ lãi quá hạn: 266.435.430 đồng; Lãi chậm trả: 36.643.996 đồng. Tổng cộng: 636.025.491 đồng (Sáu trăm bà mươi sáu triệu không trăm hai mươi năm nghìn bốn trăm chín mươi mốt đồng)
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ngân hàng TMCP V, chị Vũ Thị H1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP V kể từ ngày 27/08/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2. Về án phí:
Chị Vũ Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 29.441.019 đồng (Hai mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn không trăm mười chín đồng)
Hoàn trả Ngân hàng TMCP V 12.850.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0057667 ngày 29/04/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND khu vực 11 - Hà Nội - Phòng THADS khu vực 11 - Hà Nội - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |