- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Hồng N - Nguyễn Thị P"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n kháng cáo của bà Nguyễn Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2025/DS-PT Ngày: 07 - 7 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Ngọt
Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2058/2025/QĐXXPT-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn:
Bà Trần Hồng N, sinh năm 1946 (có mặt);
Địa chỉ: Số C, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972 (có mặt);
Ông Lê Văn C, sinh năm 1970 (ủy quyền cho bà Nguyễn Thị P theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04/7/2025).
C ng địa chỉ: số A, ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị P, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm;
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị N1 trình bày:
Vào ngày 12/10/2017 âm lịch, bà có cho bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C vay số tiền 100.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có làm giấy biên nh n do chính bà P viết có chữ ký của bà P và ông C tại mục “ngư i mượn tiền”, th i hạn trả nợ vào ngày 10/02/2018 âm lịch. Trong biên nh n do bà cung cấp có thể hiện bà P và ông C mượn của “Bà N2” số tiền 100.000.000 đồng, việc biên nh n ghi mượn của “Bà N2” là do trong các anh chị em ru t của bà th bà là thứ 5, bà đã l n tu i nên mọi ngư i gọi bà là “Bà N2”, việc vay mượn tiền th hai bên có th a thu n lãi suất, mục đích bà P và ông C vay tiền để trả tiền vay cho Ngân hàng. Đến hạn trả tiền nhiều lần bà có yêu cầu bà P và ông C thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà nhưng bà P và ông C không thực hiện mà cứ hứa h n, điều này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết, bu c bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đ i trả cho bà số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P v ng m t, tại bản t khai ngày 8
, bị đơn bà Nguyễn Thị P trình bày như sau:
Khoảng năm 2017, tôi và chồng tôi là ông Lê Văn C có vay của bà Trần Hồng N số tiền 50.000.000 đồng, có th a thu n tiền lãi tôi trả cho bà N là 4.500.0000 đồng/tháng, bà N cho tôi th i hạn khi nào có tiền th trả cho bà N, trả xong th bà N không thu tiền lãi nữa. Lúc đó giữa tôi và bà N không làm giấy t vay mượn. Sau khi mượn tiền, vợ chồng tôi trả lãi đúng theo th a thu n, c ng trong năm 2017 do cần tiền làm ăn tôi và chồng tôi là ông Lê Văn C tiếp tục h i vay của bà N thêm 50.000.000 đồng, bà N yêu cầu trả lãi m i tháng 9.000.000 đồng, vợ chồng tôi tiếp tục trả tiền lãi 9.000.000 đồng đến tháng 10/2017 th chúng tôi không còn khả năng trả lãi nữa. Ngày 12/10/2017, bà N yêu cầu vợ chồng tôi chốt nợ để trả nợ gốc. Bà N yêu cầu tôi viết Biên nh n trả tiền là biên nh n mà bà N n p cho Tòa án. Theo biên nh n, vợ chồng tôi có mượn của bà N 100.000.000 đồng vào ngày 12/10/2017 (âm lịch), đến ngày 10/02/2018 vợ chồng tôi s hoàn trả lại. Sau đó, vợ chồng tôi đã cố gắng gom góp trả dần tiền nợ gốc cho bà N. T ng c ng số tiền nợ gốc vợ chồng tôi trả cho bà N là 86.000.000 đồng. Lúc đó, vợ chồng tôi đưa tiền mặt cho bà N, v tin tưởng bà N nên chúng tôi c ng không làm giấy t g . Số tiền gốc chúng tôi còn nợ bà N còn lại là 14.000.000 đồng. Tuy nhiên, v lúc đó vợ chồng tôi quá khó khăn, không còn khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, tính t ng c ng số tiền lãi vợ chồng tôi đã đóng cho bà N c ng đã vượt quá số tiền gốc còn nợ lại nên tôi đã xin bà N b t cho tôi số tiền 14.000.000 đồng nợ gốc còn lại. Tôi có xin lại t Biên nh n trả tiền nhưng bà N nói là đã thất lạc, bà N còn nói “H ng l vợ chồng bây không tin tao Ch ng l tao lại đòi nữa ” nên chúng tôi không dám đòi t giấy nữa. Từ cuối năm 2018 đến đầu tháng 10/2024, bà N không liên lạc v i vợ chồng chúng tôi nữa, c ng không t i lui hay nhắc về khoản nợ nữa. Chúng tôi cứ nghĩ là đã trả hết nợ cho bà N rồi. Đến tháng 10/2024, bà N lại liên hệ yêu cầu chúng tôi trả số tiền gốc 100.000.000 đồng và nói nếu không trả th s đi kiện vợ chồng tôi ra Tòa án. Do chúng tôi ngh o khó, thiếu thốn m i vay mượn làm ăn, đắp đ i qua ngày nhưng vợ chồng tôi cố gắng trả đủ số tiền nợ. Bà N là ngư i cho vay tiền, nếu th t sự vợ chồng tôi chưa trả tiền cho bà N thì bà N có để cho vợ chồng tôi được yên th i gian qua hay không. Khi thấy vợ chồng tôi cất được căn nhà nh , thấy v y bà N lợi dụng sơ hở khi vợ chồng tôi trả tiền cho bà N nhưng không lấy lại giấy nợ và c ng không ghi biên nh n nh n tiền nên m i kiện vợ chồng tôi yêu cầu trả lại số tiền 100.000.000 đồng. Do chúng tôi tin bà N, không m t chút đề phòng việc bà N cố t nh giữ biên nh n nợ nên m i xảy ra sự việc thiệt thòi này.
Nay tôi không đồng ý v i yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hồng N về việc bà N yêu cầu tôi và chồng tôi là ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên trả cho bà N số tiền 100.000.000 đồng v tôi đã trả xong. Tôi không có yêu cầu xem xét tính lại tiền lãi mà tôi đã trả cho bà Trần Hồng N.
Bị đơn ông Lê Văn C v ng m t suốt trong quá trình tố tụng nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân s sơ thẩm số: 71
DS-ST ngày 9 tháng năm của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 288, 463, 466 B lu t Dân sự năm 2015; các Điều 27, 37 Lu t Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Hồng N đối v i bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C. Bu c bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đ i trả cho bà Trần Hồng N số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng (M t trăm triệu đồng). Bà Trần Hồng N không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi ch m trả, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/5/2025, bà Nguyễn Thị P kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị sửa án sơ thẩm, bác toàn b yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà P giữ nguyên n i dung kháng cáo, đề đề nghị sửa án sơ thẩm, không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
Về tố tụng: Ngư i tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của B lu t Tố tụng dân sự, những ngư i tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại B lu t Tố tụng dân sự.
Về n i dung: Đề nghị H i đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự, không chấp nh n kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P, H i đồng xét xử nh n định:
Về tố tụng:
Bị đơn bà Nguyễn Thị P kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong th i hạn lu t định nên được xem xét giải quyết theo tr nh tự phúc thẩm.
Về n i dung vụ án:
Nguyên đơn bà Trần Hồng N yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đ i trả số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bị đơn bà Nguyễn Thị P thừa nh n có vay của nguyên đơn bà Trần Hồng N số tiền 100.000.000 đồng nhưng cho r ng đã trả xong nên không đồng ý v i yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy, tại “Biên nh n trả tiền” do nguyên đơn cung cấp có n i dung: “tôi tên: Nguyễn Thị P, sinh: 1972, số A ấp T, thị trấn T, có mư n của Bà năm số ti n: 1 . .
một trăm triệu đ ng vào ngày 1 1 âl 17 đến ngày m ng 1 tháng
18 tôi s hoàn trả lại, nếu sai lời tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và chấp nh n việc khởi kiện ra Tòa án nhân dân – người mư n ti n v P – Nguyễn Thị P, ch ng C – Lê Văn C”.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P thừa nh n có “Biên nh n trả tiền” do nguyên đơn cung cấp, bà P có ký tên và thừa nh n có vay của bà N 100.000.000 đồng như yêu cầu khởi kiện của bà N. Tuy nhiên bà P cho r ng bà và chồng bà là ông Lê Văn C đã trả nợ xong cho bà N nhưng không có giấy t , tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Trong khi đó, bà N không thừa nh n việc bà P và ông C đã trả nợ cho bà N và kh ng định bà P và ông C còn nợ số tiền 100.000.000 đồng nhưng chưa thanh toán. Đối v i ông Lê Văn C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và bản sao các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao n p cho Tòa án theo đúng quy định nhưng vắng mặt trong các lần Tòa án triệu t p và vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án. Ông Lê Văn C không đưa ra ý kiến phản đối về các chứng cứ mà nguyên đơn giao n p cho Tòa án, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 92 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án sử dụng chứng cứ do nguyên đơn giao n p làm cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác l p, thực hiệp hợp đồng vay tài sản. Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có vay của bà Trần Hồng N số tiền 100.000.000 đồng nhưng chưa trả. Đồng th i, có đủ cơ sở xem xét hợp đồng vay tài sản được bà Trần Hồng N, bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C giao kết trên cơ sở tự nguyện và b nh đ ng, không ai bị lừa dối hoặc bị ép bu c, các bên đều có đầy đủ năng lực pháp lu t và năng lực hành vi dân sự nên được xem là hợp đồng hợp pháp và được công nh n theo quy định tại Điều 463 B lu t Dân sự năm 2015.
Về nghĩa vụ trả tiền: Từ những căn cứ nêu trên có cơ sở xác định bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C chưa thanh toán cho bà Trần Hồng N số tiền đã vay 100.000.000 đồng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Do đó, cần bu c bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đ i trả cho bà Trần Hồng N số tiền 100.000.000 đồng là ph hợp theo quy định tại Điều 466 B lu t Dân sự năm 2015; các Điều 27, 37 Lu t Hôn nhân và gia đ nh. Do nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị P kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của bà là có căn cứ nên không được chấp nh n, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là ph hợp v i nh n định của H i đồng xét xử nên được chấp nh n.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nh n nên bà P phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của B lu t Tố tụng dân sự;
Không chấp nh n kháng cáo của bà Nguyễn Thị P.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long).
Cụ thể tuyên:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 288, 463, 466 B lu t Dân sự năm 2015; các Điều 27, 37 Lu t Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Hồng N đối v i bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C. Bu c bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đ i trả cho bà Trần Hồng N số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng (M t trăm triệu đồng). Bà Trần Hồng N không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp lu t, có đơn yêu cầu của ngư i được thi hành án (đối v i khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, th hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 B lu t dân sự 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đ i n p 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã n p 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lại thu số 00012302 ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Đi u Lu t Thi hành án dân s thì người đư c thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quy n thỏa thu n thi hành án, có quy n yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các đi u 6, 7, 7a, 7b và 9 Lu t Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án đư c th c hiện theo quy định tại Đi u 3 Lu t Thi hành án dân s .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND khu vực 9 - Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; - Phòng Giám đốc, Kiểm tra, Thanh tra và Thi hành án TAND tỉnh Vĩnh Long; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |