vanban.org

Bản án 149/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Duy H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Duy Hóa - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 149/2024/HS-ST
Ngày 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thụy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thúy Lan;

2. Bà Phạm Tú Nhi.

Thư ký phiên toà: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/HSST-QĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Duy H, sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: số A, đường A, tổ dân phố D, khu phố V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: sửa xe máy; trình độ học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông Vũ Duy B, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1948; bị cáo có 08 anh, chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 31/12/2023 cho đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: anh Trương Chí T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 31/12/2023, bị cáo Vũ Duy H điều khiển xe mô tô, biển số 60Y3 – 2225, nhãn hiệu Dream từ địa chỉ: số A, đường A, tổ dân phố D, khu phố V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực trước cổng Đền H1, tại khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương để mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo H gặp một người đàn ông tên V (không rõ nhân nhân, lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. Sau khi đưa tiền, bị cáo H được người đàn ông tên V đưa 01 túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể ma túy, loại Methamphetamine. Sau đó, bị cáo H cất túi ma túy vào trong túi quần trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo H điều khiển xe đến trước cổng Công ty bán xe cẩu Đ thuộc tổ A, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường B, thành phố D dừng xe kiểm tra hành chính và phát hiện túi ma túy bị cáo H cất giấu trong túi quần đang mặc. Lực lượng Công an phường lập biên bản bắt quả tang, thu giữ tang vật và đưa về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô biển số 60Y3 – 2226, số khung: RLHJA2701DY152458; số máy: JA27E-0048249; thể tích 109 cm3.

- 01 gói nylon miệng kéo dính bên trong có chứa tinh thể màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 269/KL-KTHS(MT) ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 0,2951 gam”.

Tại Cáo trạng số: 167/CT-VKS-DA ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vũ Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Vũ Duy H từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 60Y3 – 2226, số khung: RLHJA2701DY152458; số máy: JA27E-0048249, thể tích 109 cm3. Qua tra cứu, Cơ quan điều tra xác định: chiếc xe mô tô sử dụng biển số giả, biển số 60Y3 – 2226 là biển số xe của xe mô tô hai bánh hiệu LIFAN thuộc sở hữu của ông Lê Thanh Q, địa chỉ: khu phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, hiện anh Q không có ở địa phương, không rõ nơi cư trú hiện tại. Chiếc xe mô tô có số khung: RLHJA2701DY152458; số máy: JA27E-0048249, thể tích 109 cm3 có biển thật là 60F2-047.94 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức T1, sinh năm1969; thường trú: số I, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ông T1 đã bán chiếc xe không nhớ bán cho ai. Cơ quan điều tra đã đăng tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người đến nhận. Đây là phương tiện liên quan đến vụ án và đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tìm kiếm chủ sở hữu, nên đề nghị tịch thu sung công quỹ đối với xe máy; tịch thu tiêu hủy đối với biển số giả 60Y3 – 2226.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong bên trong chứa ma túy có khối lượng: 0,2290 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định.

Đối với người đàn ông tên V bán ma túy cho bị cáo H hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: khoảng 22 giờ, ngày 31/12/2023 tại trước cổng Công ty bán xe cẩu Đ thuộc tổ A, khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương bị cáo Vũ Duy H có hành vi cất giấu 0,2951 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Bản kết luận giám định số 269/KL-KTHS(MT) ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B. Như vậy, hành vi của bị cáo H mua ma túy sau đó cất giấu, nhằm mục đích để sử dụng với khối lượng 0,2951 gam, loại Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 167/CT-VKS-DA ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Vũ Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý, sử dụng độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về nhân thân: bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý, sử dụng độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Xét 01 bì thư được niêm phong bên trong chứa ma túy có khối lượng: 0,2290 gam, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, là chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 biển số 60Y3 – 2226 là biển số xe giả cần tịch thu, tiêu hủy.

- Xét 01 chiếc xe mô tô có số khung: RLHJA2701DY152458; số máy: JA27E-0048249, thể tích 109 cm3 có biển thật là 60F2-047.94 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức T1. Ông T1 đã bán chiếc xe không nhớ bán cho ai. Cơ quan điều tra đã đăng tìm chủ sở hữu nhưng không có người đến nhận. Đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với người đàn ông tên V bán ma túy cho bị cáo H hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc áp dụng hình phạt là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử xử mức thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, về đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Duy H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong, bên trong chứa tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,2290 gam, mẫu vật hoàn lại sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy 01 biển số 60Y3 – 2226;

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda, số khung: RLHJA2701DY152458; số máy: JA27E-0048249, thể tích 109 cm3.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Vũ Duy H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ