vanban.org

Bản án 149/2024/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 26/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÂM
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:149/2024/HS-ST
Ngày 26 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kháng và ông Lê Quang Điện

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:133/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:129/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Lò Văn S, sinh ngày 06/3/2006; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản P, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 07/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lò Văn V (sinh năm: 1986) và bà Lường Thị H (sinh năm 1986); gia đình có 2 anh, chị, em ruột, bị cáo là thứ hai.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2024, tạm giam từ ngày 11/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị T – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

Người làm chứng:

Ông Lý Xuân M, sinh năm 1952; địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Anh Lý Đức C, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Anh Vì Văn L, sinh năm 1993; địa chỉ: bản N, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn S là đối tượng nghiện ma tuý, loại Heroine. Sinh đến huyện V, tỉnh Hưng Yên làm thuê tự do và thuê nhà trọ tại thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 05/8/2024, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số: 26AF-013.25 đi từ phòng trọ đến địa phận huyện L, tỉnh Bắc Ninh (Sinh không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi S đang đi ở đường thì gặp một người nam giới không rõ tên, địa chỉ đang đứng ở ven đường. Qua nói chuyện Sinh biết người này có ma tuý bán nên đã hỏi mua với số tiền 300.000 đồng thì người nam giới đồng ý. Sinh đưa cho người nam giới số tiền 300.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho S 01 gói nilon màu hồng bên trong có 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột là ma tuý (loại Heroin). Sau khi mua được ma tuý S điều khiển xe về phòng trọ, cất gói ma tuý trên tại túi áo khoác màu đen bên trái của S treo trong phòng. Đến khoảng 16 giờ, ngày 08/8/2024, S cầm gói ma tuý (loại H1) trên cho vào túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 26AF-013.25 để tìm nơi vắng người thì sử dụng ma tuý. Khi S đi đến sân bóng thôn T, xã M, huyện V thì bị Công an xã M kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng gồm: thu tại túi quần phía trước bên trái S đang mặc 01 gói nilong màu hồng, bên trong có giấy bạc chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu M1); ngoài ra còn thu giữ của S 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 26AF-013.25, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, bên trong lắp sim số 0899.917.946 đều đã qua sử dụng.

Cùng ngày 09/8/2024 tiến hành Tesst ma túy đối với Lò Văn S cho kết quả dương tính với ma túy, loại Heroine.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT- Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn S tại thôn T, xã M, huyện V. Kết quả khám xét đã thu giữ: tại túi áo khoác bên trái màu đen được trong phòng trọ của Lò Văn S 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu M2).

Tại bản thông báo kết luận giám định sơ bộ số 541 ngày 08/8/2024 và Kết luận giám định số 541 ngày 12/8/2024 của phòng K Công an tỉnh H kết luận: “chất màu trắng, dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu “M1”, có tổng khối lượng là 0,109g (không phẩy một không chín gam) là ma tuý, loại Heroine; chất màu trắng, dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu “M2”, có tổng khối lượng là 0,027g (không phẩy không hai bảy gam) là ma tuý, loại Heroine ”. H2 lại mẫu vật sau giám định phong bì trong niêm phong ghi số 541/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,099g ma túy (loại Heroin) niêm phong ký hiệu M1, 0,022g ma túy (loại Heroin) niêm phong ký hiệu M2.

Quá trình điều tra xác định: đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, bên trong lắp sim số 0899.917.946 thu giữ của S không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đen, biển số 26AF-013.25 đăng ký mang tên Lò Văn S, S sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy. Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật của Phòng K Công an tỉnh H xác định là vật chứng của vụ án. Các vật chứng trên Cơ quan CSĐT-Công an huyện V đã nhập vào kho vật chứng của Công an huyện V để chờ xử lý sau.

Đối với người nam giới bán ma túy cho Sinh ngày 05/8/2024 tại khu vực huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra đã có văn bản tra đổi với Cơ quan CSĐT- Công an huyện L để điều tra theo thẩm quyền.

Cáo trạng số:132/CT-VKS-VL ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Lò Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng

Viện kiểm sát truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố; đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù; ngoài ra đại diện viện kiểm sát đề nghị HĐXX giải quyết các vấn đề về hình phạt bổ sung; về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp khác và án phí của vụ án.

- Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: thống nhất với tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, có điều kiện kinh tế khó khăn nên nhận thức pháp luật hạn chế, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp khách quan với lời khai của người làm chứng; của Biên bản bắt người phạm tội quả tang; của các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung của Bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu và đã có đủ cơ sở kết luận: “do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ 25 phút ngày 08/8/2024, tại thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn S đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép tổng số 0.136g ma túy, loại Heroin trên người và chỗ ở nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an xã M phát hiện”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đã truy tố bị cáo Lò Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Chỉ vì thói quen chơi bời và do nghiện ma tuý nên bị cáo đã mua rồi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, là nguyên nhân làm hủy hoại sức khỏe, trí lực của con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc, kinh tế gia đình, là gánh nặng của gia đình và xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh những loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải nghiêm trị đối với bị cáo; đồng thời cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Có vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và cũng là bài học giáo dục phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 541/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H.

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, bên trong lắp sim số 0899.917.946 thu giữ của S không liên quan đến hành vi phạm tội, vì vậy cần trả lại bị cáo.

- Chiếc xe hiệu Honda Wave màu xanh, đen, biển số 26AF-013.25 đăng ký mang tên Lò Văn S là tài sản của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Lò Văn S là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn nộp tiền án phí do vậy miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn S 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 08/8/2014.

[3] Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, bên trong lắp sim số 0899.917.946 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đen, biển số 26AF-013.25 đăng ký mang tên Lò Văn S.

- Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý trong phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi gám định số 541/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H.

[4]. Về án phí: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[5]. Về quyền kháng cáo: vụ án được xét xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ