vanban.org

Bản án 149/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Trần Thị H đối với bà Phan Thị T1.

1. Buộc bà Phan Thị T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị H số tiền 247.104.800 đồng (hai trăm bốn mươi bảy triệu một trăm lẻ bốn bốn nghìn tám trăm đồng), bao gồm 240.000.000 đồng tiền gốc và 7.104.800 đồng tiền lãi. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị H-Phan Thị T (vay)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Trần Thị H đối với bà Phan Thị T1.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/DS-ST
Ngày: 13-9-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Hữu Bình;

2. Bà Lê Thị Lan Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 287/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-DS ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Đại diện hợp pháp: Ông Nông Tiến T, sinh năm 1998; HKTT: Thôn H, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 11/4/2024).

2. Bị đơn: Bà Phan Thị T1, sinh năm 1972; hộ khẩu thường trú: Số F đường T, tổ A, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2024, quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn bà H, đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông T trình bày:

Ngày 14/07/2023, bà T1 có vay của bà H số tiền 240.000.000 đồng, các bên không thỏa thuận lãi suất, thời gian vay là 01 tháng. Giấy mượn tiền có chữ ký xác nhận nợ của bà T1. Hiện tại khoản nợ trên đã quá thời hạn nhưng bà T1 không thanh toán nên bà H khởi kiện yêu cầu bà T1 phải trả số tiền 240.000.000 đồng và số tiền lãi tính từ ngày 15/08/2023 đến ngày 15/03/2024 là 240.000.000 đồng x 0,83% x 7 tháng =13.944.000 đồng. Tổng số tiền bà H yêu cầu là 253.944.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử sở thẩm.

Quá trình tố tụng, bà H chỉ yêu cầu bà Thanh thanh T2 tiền lãi từ ngày thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 11/4/2024; Giấy mượn tiền ngày 14/7/2023.

* Ý kiến của bị đơn bà Phan Thị T1:

Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho bà T1 biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng bà T1 vắng mặt không có lý do.

* Theo biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024, con trai bị đơn ông Mai Quốc V trình bày:

Bà T1 có vay số tiền như nguyên đơn trình bày, khi vay có thỏa thuận lãi suất và đã trả được một số tiền nhưng không có chứng cứ. Hiện nay do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn nên bà T1 xin trả dần cho bà H mỗi tháng 2.000.000 đến 4.000.000 đồng.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử cho phiên tòa được tiếp tục để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Về thủ tục tố tụng, không kiến nghị bổ sung hay đề nghị khắc phục. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, đại diện nguyên có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn bà T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là cố tình nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2024, nguyên đơn bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Phan Thị Thanh thanh T2 số tiền 240.000.000 đồng. Căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc xác định tư cách tham gia tố tụng là phù hợp quy định của pháp luật.

Bị đơn bà T1 có hộ khẩu thường tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xem xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp thấy rằng: Giấy mượn tiền ngày 14/7/2023 có chữ ký và chữ viết xác nhận nợ của bà T1. Theo giấy nợ bà H cung cấp thể hiện số tiền vay là 240.000.000 đồng. Bà H nhiều lần yêu cầu bà T1 trả nợ nhưng bà T1 không thực hiện. Hiện nay, khoản vay đã quá hạn, bà T1 chưa thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Con ruột bị đơn là ông Mai Quốc V thừa nhận bà T1 có nợ bà H 240.000.000 đồng, bà T1 đã trả một phần lãi nhưng không có giấy tờ chứng minh. Do hoàn cảnh khó khăn nên bà T1 xin trả góp hàng tháng từ 2.000.000 - 4.000.000 đồng.

Về lãi suất: Giấy mượn tiền ngày 14/7/2023 không ghi lãi suất và thời hạn trả nợ. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày vay đến khi xét xử sơ thẩm. Tại đơn vắng mặt ngày 12/9/2024, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi từ ngày Tòa án thụ lý vụ án (ngày 27/5/2024) đến ngày xử sơ thẩm là 03 tháng 17 ngày với lãi suất 10%/năm tương đương 0,83%/tháng. Như vậy, tổng số tiền lãi là (240.000.000 đồng x 0,83% x 03 tháng) + (240.000.000 đồng x 0,83% : 30 ngày x 17 ngày) = 7.104.800 đồng. Yêu cầu lãi của nguyên đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 466, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Quá trình thực hiện tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà T1 được Tòa án triệu tập, tống đạt trực tiếp và niêm yết hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không tham gia các buổi làm việc, buổi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử để có ý kiến về số nợ của nguyên đơn yêu cầu. Điều này thể hiện bà T1 cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của bà H được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tổng số tiền bà T1 phải thanh toán là 247.104.800 đồng.

Nguyên đơn rút một phần yêu cầu tiền lãi (13.944.000 đồng – 7.104.800 đồng) = 6.839.200 đồng. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Trần Thị H đối với bà Phan Thị T1.

1.1. Buộc bà Phan Thị T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị H số tiền 247.104.800 đồng (hai trăm bốn mươi bảy triệu một trăm lẻ bốn bốn nghìn tám trăm đồng), bao gồm 240.000.000 đồng tiền gốc và 7.104.800 đồng tiền lãi.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

1.2. Đình chỉ yêu cầu của bà Trần Thị H đối với bà Phan Thị T1 về số tiền lãi 6.839.200 đồng.

2. Về án phí:

- Bà Phan Thị T1 phải chịu 12.355.240 đồng (mười hai triệu ba trăm năm mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi đồng).

- Hoàn trả cho bà Trần Thị H số tiền 6.348.600 đồng (sáu triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn sáu trăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000120 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Quyền thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ