- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2023/DS-ST Ngày: 17-8-2023 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hồng
2. Bà Nguyễn Thị Ly
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ctham gia phiên tòa:
Ông Trƣơng Minh Thiện – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 334/2023/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1982; địa chỉ: số 82, tổ 4, ấp H, xã Đ, huyện CP, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Mai Ngọc T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (Hợp đồng ủy quyền ngày 16/9/2022) (Có mặt);
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ 8, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị L – Sinh năm 1983; địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện CP, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai ông Ông Mai Ngọc T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, do quen biết nhau, ông L có cho bà Đ vay nhiều lần với tổng số tiền 290.000.000đ cụ thể như sau:
Ngày 28/01/2021 vay 50.000.000đ
Ngày 10/3/2021 vay 140.000.000đ
Ngày 06/4/2021 vay 100.000.000đ
Việc vay này có lập biên nhận nợ ngày 20/7/2022 do bà Đ ký tên. Hai bên không thỏa thuận thời hạn vay, lãi suất 2%/tháng, nhưng từ khi vay đến nay bà Đ không đóng lãi hay trả vốn cho ông L.
Ông L đã nhiều lần yêu cầu bà Đ trả lại số tiền vay còn thiếu 290.000.000đ, nhưng bà Đ không trả.
Nay ông yêu cầu bà Đ trả cho ông L số tiền vay 290.000.000đ. Yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật đối với khoản tiền này kể từ ngày vay cho đến khi xét xử.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Đ đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án của Huỳnh Văn L và được triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án, nhưng bà Đ không có ý kiến gì và vắng mặt trong quá trình giải quyết nên không ghi nhận được ý kiến và hòa giải được.
Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án của ông Huỳnh Văn L và được triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án, nhưng bà có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết nên không ghi nhận được ý kiến và hòa giải được.
Tại phiên tòa, ông Mai Ngọc T đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn L thay đổi yêu cầu tính lãi đối với số tiền 150.000.000đ kể từ ngày 20/7/2022 và số tiền 140.000.000đ kể từ ngày 13/10/2022 theo quy định của pháp luật còn các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên.
Bà Huỳnh Thị Đ đã được triệu tập để tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không lý do.
Bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định. Về ý kiến giải quyết:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn L.
Buộc bà Huỳnh Thị Đ có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Văn L số tiền tiền vay 290.000.000đ và tiền lãi cho đến khi xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về hình thức: Ông Huỳnh Văn L khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Đ trả 290.000.000đ tiền vay. Bà Huỳnh Thị Đ có nơi cư trú ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Đ đã được triệu tập đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị Đ, bà Nguyễn Thị L là có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay ông T đại diện theo ủy quyền của ông L yêu cầu bà Huỳnh Thị Đ trả vốn gốc còn 290.000.000đ đồng, tính lãi đối với khoản tiền 150.000.000 đồng từ ngày 20/7/2022, tính lãi đối với số tiền 140.000.000đồng từ ngày 13/10/2022 theo quy định của pháp luật. Xét thấy, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông T không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Về nội dung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông T đại diện theo ủy quyền của ông L yêu cầu bà Huỳnh Thị Đ trả 290.000.000đ tiền vay. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập bà Đ tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng bà Đ vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ Điều 92 có cơ sở xác định số tiền mà bà Đ còn nợ ông L 290.000.000đ tiền vay và xét buộc bà Đ phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền này cho nguyên đơn là phù hợp. Nên việc ông L yêu cầu bà Đ thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên là có cơ sở phù hợp với Điều 463, 471 Bộ luật dân sự.
- Đối với tiền lãi, ông T yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 20/7/2022 đối với số tiền vay 150.000.000đ có thời hạn và lãi và số tiền vay không thời hạn 140.000.000đ kể từ ngày 13/10/2022 cho đến khi xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy, hai bên xác lập hợp đồng vay tài sản, có thỏa thuận thời gian trả và lãi đối với số tiền 150.000.000đ và không thời hạn, lãi suất đối với số tiền 140.000.000đ nên yêu cầu của ông T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, thì tiền lãi được tính như sau:
Đối với số tiền 150.000.000đ từ ngày 20/7/2022 tính đến nay là 393 ngày với mức lãi suất 20%/năm tương ứng là 1,66%/tháng và 0,0556%/ngày, số lãi là:
150.000.000đ x 0,0556% x 393 ngày = 32.750.000đ.
Đối với số tiền 140.000.000đ tính từ ngày 13/10/2022 tính đến nay là 308 ngày với lãi suất 10%/năm tương ứng là 0,833%/tháng và 0,0278%/ngày, số lãi là:
140.000.000đ x 0,0278% x 308 ngày = 11.978.000đ.
Cộng chung lãi là 32.750.000đ + 11.978.000đ = 44.728.000đ
Tổng cộng vốn 290.000.000đ + lãi 44.728.000đ = 334.728.000đ.
Từ cơ sở trên buộc bà Đ trả cho ông L số tiền vốn và lãi là 334.728.000đ.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L là vợ ông L, nhưng bà không có ý kiến gì đối với việc tranh chấp này nên Hội đồng xét xử không đề cập đến trách nhiệm.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bà Huỳnh Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 92, 244, 227, và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 463, 468, 471 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn L.
Buộc bà Huỳnh Thị Đ có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Văn L số tiền vốn và lãi 334.728.000đ (Ba trăm ba mươi bốn triệu, bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng), trong đó vốn 290.000.000đ (Hai trăm chín mươi triệu đồng), lãi 44.728.000đ (Bốn mươi bốn triệu, bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng).
Kể từ ngày ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 16.736.400đ (Mười sáu triệu, bảy trăm ba mươi sáu ngàn, bốn trăm đồng).
Ông Huỳnh Văn L được nhận lại tiền tạm ứng án phí 7.250.000đ (Bảy triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai số 0012603 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh An Giang; -VKSND huyện Chợ Mới; -Chi cục THADS huyện Chợ Mới; -Các đương sự; -Lưu. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Đức THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Đức |