- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2022/HSST Ngày: 24/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tôn Thất Quý và bà Trần Thị Bích Thủy.
-Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thanh Huế- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Long- Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (60 Nguyễn Huệ, Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2022/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2022/QĐXXST-HS ngày 08/6/2022 đối với bị cáo:
Trần Thị Ngọc H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/8/1985 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT: 15/388 đường B, phường T, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Ngọc T, sinh năm 1959; con bà: Trần Thị L, sinh năm 1959; chồng: Nguyễn Hà Pho M, sinh năm 1984; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009.
Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ sống với gia đình, đi học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà. Ngày 02/5/2012, bị Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “ Chống người thi hành công vụ” (theo quyết định số 1663/QĐ-XPHC). Ngày 29/7/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 178/2015/HSST). Ngày 28/6/2019, chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống cho đến ngày phạm tội.
Tiền án: Có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy”(Bản án số 178/2015/HSST ngày 29/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Huế).
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 30/12/2021, khởi tố chuyển tạm giam từ ngày 05/01/2022, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Huế cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người chứng kiến: Bà Lê Thị Lan D, sinh năm 1968; Địa chỉ: 20/373 đường B, phường T, thành phố Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 26/12/2021, do muốn có ma túy để sử dụng, Trần Thị Ngọc H một mình đến tại khu vực bờ hồ đường Trần Huy Liệu, phường Đông Ba, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, H gặp một thanh niên và mua 20 viên ma túy, dạng hồng phiến với giá tiền 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu ma túy trong túi áo khoác đang mặc trên người và đi về nhà, sau đó H lấy 03 viên ma túy vừa mua được đem ra sử dụng một mình, còn lại 17 viên H tiếp tục cất giấu trong túi áo khoác của mình.
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 29/12/2021, tại số nhà 15/388 đường Bùi Thị Xuân, phường Thủy Biều, thành phố Huế, khi Trần Thị Ngọc H lấy hai viên ma túy dạng hồng phiến ra để trên bàn tròn trong nhà để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng, khoảng 20 giờ cùng ngày Công an phường Thủy Biều, thành phố Huế phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Huế vào kiểm tra, khi thấy Công an vào nhà, H liền lấy gói ma túy đang cất giấu trong túi áo khoác của mình vứt xuông sàn nhà gần cửa ra vào thì bị Công an phường Thủy Biều, thành phố Huế phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Huế phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên bàn tròn trong nhà 02 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, thu giữ ở gần cửa ra vào nhà 01 túi ni lông bên trong chứa 15 viên nén hình trụ tròn màu đỏ. H khai nhận toàn bộ các viên nén màu đỏ đều là ma túy loại hồng phiến do H mua, cất giấu để sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 01 túi ni lông bên trong chứa 02 viên nén hình trụ tròn màu đỏ; 01 túi ni lông bên trong chứa 15 viên nén hình trụ tròn màu đỏ.
Tại bản kết luận giám định số 791/GĐ ngày 04/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:
- 02 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định có tổng khối lượng là 0,2158g, là ma túy, loại Methamphetamine.
- 15 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định có tổng khối lượng là 1,6490, là ma túy, loại Methamphetamine.
Sau khi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế tiếp tục tạm giữ gồm: 0,0158g mẫu bột được nghiền từ 02 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ; 1,4490g mẫu bột được nghiền từ 15 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ; Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tất cả được niêm phong theo quy định.
Như vậy, tổng khối lượng ma tuý, loại Methamphetamine do Trần Thị Ngọc H tàng trữ để sử dụng là: 1,8648 gam.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đã đóng gói, niêm phong và giao lại đối tượng giám định được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần Nam, 02 chữ ký của điều tra viên Lê Nam, 02 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và dòng chữ “Hoàn mẫu vật vụ Trần Thị Ngọc Hải, bắt ngày 29/12/2021” hiện đang được cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Huế tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Hành vi của Trần Thị Ngọc H mua, tàng trữ để sử dụng 1,8648 gam ma túy loại Methamphetamine phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Trần Thị Ngọc H tại khu vực bờ hồ đường Trần Huy Liệu, phường Đông Ba, thành phố Huế do không xác định rõ họ tên, nhân thân, lai lịch, địa chỉ của nam thanh niên này nên không có căn cứ xử lý, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trần Thị Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Trần Thị Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy đã giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Thị Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ 0 phút ngày 29/12/2021, tại số nhà 15/388 đường Bùi Thị Xuân, phường Thủy Biều, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Thị Ngọc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,8648 gam chất ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phường Thủy Biều, thành phố Huế phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế bắt quả tang.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma tuý của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, trọng lượng ma túy do bị cáo tàng trữ là 1,8648 gam ma túy Methamphetamine. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Trần Thị Ngọc H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma tuý, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, huỷ hoại sức khoẻ, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và xử phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật, do đó cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân tốt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý mà Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế đã chuyển giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Huế là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Trần Thị Ngọc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 30/12/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên bố:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói ma túy đã giám định được niêm phong kín;
(Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Thị Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh TTHuế; -Sở Tư pháp tỉnh TTHuế; -Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế; -Công an thành phố Huế; -VKSND thành phố Huế; -THA HS, THA DS; -Bị cáo; -Lưu. | TM/HỘI Đ NG X T X TH M Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Huế |