vanban.org

Bản án 149/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 26/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: bị cáo Hu nh Thanh A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Hu nh Thanh A 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: bị cáo Hu nh Thanh A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:149/2020/HSST
Ngày: 26/10/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bính

2. Ông Nguyễn Lê Phong

Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn V Th y Chi - Cán

bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan

Thiết xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2020/TLST-HS

ngày 05 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

201/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thanh A (tên gọi khác: B)

Sinh ngày: 15/6/1994 tại BT.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã D, huyện E, tỉnh BT.

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam

Tôn giáo: không

Trình độ học vấn: 6/12;

Nghề nghiệp: lao động tự do

Cha: Hu nh Văn F;

Sinh năm 1948; Nghề nghiệp: làm nông

Mẹ: Nguyễn Thị G;

Sinh năm 1954; Nghề nghiệp: làm nông;

C ng tr tại: Thôn C, x H, huyện I, tỉnh BT;

Anh chị em ruột: c 07 ngư i, bị cáo là t trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: không vi phạm gì;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư tr ”.

Bị cáo c mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 gi ngày 29/02/2020, Hu nh Thanh A (sinh năm 1994, tr tại:

Thôn C, x H, huyện I, tỉnh BT điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki biển số 70G1 - 1XX.X8 đi t nhà mình ở x H - huyện I đến thành phố J để lấy một số dụng cụ sửa xe mô tô. Sau khi xong việc, do c nhu c u sử dụng ma t y nên A điều khiển xe mô tô vào một con h m hướng xuống biển g n c ng K, thuộc Phư ng L, để tìm mua ma t y. Tại đây, A gặp một nh m bốn ngư i thanh niên (không r nhân thân), A hỏi “C đ không ” (c ngh a là c ma t y không , thì một trong bốn nam thanh niên n i là “C ” và hỏi A “Mua bao nhiêu”. A n i “Mua năm trăm ngàn đ ng”, sau đ A đưa tiền cho ngư i thanh niên này r i ngư i này chạy đi lấy ma t y (A không biết ngư i này chạy đi đâu . Khoảng 10 ph t sau ngư i thanh niên quay lại ném xuống chỗ A 01 g i ma t y, A nhặt lên r i bỏ trong chiếc hộp nhựa màu đỏ, sau đ bỏ vào t i áo khoác bên trái của mình. Sau khi mua đư c ma t y, l c này khoảng 16 gi 25 ph t c ng ngày, A điều khiển xe mô tô biển số 70G1- 2XX.X8 về lại nhà mình, khi đi đến đoạn đư ng M thuộc khu phố 3, phư ng N, thành phố J thì A bị t tu n tra của Đội Cảnh sát giao thông - trật tự yêu c u d ng xe để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong t i áo khoác bên trái của A c một hộp nhựa màu đỏ, trong hộp c một g i nylon không màu ch a tinh thể màu tr ng nghi là ma t y. Sau đ t tu n tra đ đưa A về Công an phư ng N làm việc, tại đây A th a nhận đ là ma t y do mình mới mua và mục đích tàng tr ma t y là để sử dụng. (b t lục số 50

Vật chứng thu giữ:

- 01 g i nylon không màu c kh a nhựa kéo một đ u, kích thước

(1,5x4 cm bên trong ch a tinh thể màu tr ng. (được niêm phong và ký hiệu M khi giám định).

- 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8x4x3 cm.

- 01 xe mô tô màu đỏ đen, hiệu Suzuki biển số 70G1 – 1XX.X8.

i

ận i

nh

n

a h n

h ậ h nh

- n an nh BT,

ận:

- M u M gửi giám định c khối lư ng 0,5269 gam; là Methamphetamine.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Suzuki, biển số 70G1- 1XX.X8, không xác

định đư c số máy, số khung. Quá trình điều tra xác định đư c, A mua lại ở tỉnh O của một ngư i (không r nhân thân với giá 18.000.000 đ ng. Th i điểm mua xe, chỉ giao tiền và xe ch không giao giấy đăng ký xe, không lập h p đ ng mua bán. Tại bản kết luận giám định số 836 ngày 20/8/2020 của Phòng K thuận hình sự - Công an tỉnh BT kết luận: Xe mô tô màu đỏ đen biển số 70G1 - 1XX.X8 c số khung MHDBF13ELW 606996; số máy bị mài mòn, không xác định đư c. Do chưa xác định đư c chủ sở h u của chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm gi , làm r xử lý sau.

Hiện các vật ch ng còn lại của vụ án, Viện kiểm sát nhân dân thành phố J

đ ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố J để bảo quản ch xử lý.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố J v n gi nguyên

Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 164/CT/VKSPT-HS ngày 01/10/2020 của

Viện kiểm sát nhân dân thành phố J.

Đề nghị Hội đ ng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Hu nh Thanh A phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma

t y”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, đề nghị xử

phạt bị cáo Hu nh Thanh A t 12 đến 18 tháng tù.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1

Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề

nghị tuyên:

* Tịch thu, tiêu hủy: 01 g i nylon không màu c kh a nhựa kéo một đ u,

kích thước (1,5x4 cm bên trong ch a tinh thể màu tr ng. (được niêm phong và

ký hiệu M khi giám định), 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8x4x3 cm.

-Đối với xe mô tô hiệu Suzuki, biển số 70G1- 1XX.X8, không xác định

đư c số máy, số khung. Do chưa xác định đư c chủ sở h u của chiếc xe trên

nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm gi , làm r xử lý sau.

Căn c vào các ch ng c và các tài liệu đ đư c thẩm tra tại phiên tòa,

căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện

ch ng c , ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và nh ng ngư i tham gia tố tụng

khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ

đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận thấy như

sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành

phố J, Viện kiểm sát nhân dân thành phố J, Kiểm sát viên trong quá trình điều

tra, truy tố:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và nh ng ngư i tiến hành tố tụng đ thực

hiện đ ng và đ y đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và nh ng ngư i tham gia tố tụng khác

không c ngư i nào c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng

c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục

tố tụng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành

tố tụng.

. Về căn c buộc tội bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo th a nhận hành vi phạm

tội của mình như nội dung Cáo trạng đ nêu, bị cáo th a nhận cáo trạng truy tố là đ ng, không oan. L i khai nhận này của bị cáo ph h p với l i khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các ch ng c khác c tại h sơ vụ án.

Như vậy c đủ cơ sở kết luận: khoảng 14 gi ngày 29/02/2020, Hu nh

Thanh A điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki biển số 70G1 - 1XX.X8 đi t nhà ở x H, huyện I đến tp J để lấy một số dụng cụ sửa xe mô tô. Sau khi xong việc, do c nhu c u sử dụng ma t y nên A điều khiển xe mô tô vào một con h m hướng xuống biển g n c ng K, thuộc Phư ng L, để tìm mua ma t y. Tại đây, A gặp một nh m bốn ngư i thanh niên A hỏi “C đ không ” thì một trong bốn nam thanh niên n i là “C ” và hỏi A “Mua bao nhiêu”. A n i “Mua năm trăm ngàn đ ng”, sau đ A đưa tiền cho ngư i thanh niên này, khoảng 10 ph t sau ngư i thanh niên quay lại ném xuống chỗ A đ ng 01 g i ma t y, A nhặt lên bỏ trong chiếc hộp nhựa màu đỏ và bỏ vào t i áo khoác bên trái của mình, l c này khoảng 16 gi 25 ph t c ng ngày, A điều khiển xe mô tô về nhà, khi đi đến đoạn đư ng M thuộc khu phố 3, phư ng N, tp J, A bị t tu n tra của Đội Cảnh sát giao thông - trật tự yêu c u d ng xe để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong t i áo khoác bên trái của A c một hộp nhựa màu đỏ, trong hộp c một g i nylon không màu ch a tinh thể màu tr ng nghi là ma t y. Sau đ t tu n tra đ đưa A về Công an phư ng N làm việc, tại đây A th a nhận đ là ma t y do mình mới mua và mục đích tàng tr ma t y là để sử dụng.

Vì vậy Cáo trạng số 164/CT/VKSPT-HS ngày 01/10/2020 của Viện kiểm

sát nhân dân tp. J truy tố bị cáo Hu nh Thanh A phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma t y”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là c căn c và đ ng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Hu nh

Thanh A là công dân c đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận th c đư cMethamphetamine là chất gây nghiện nằm trong danh mục Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng tr , mua bán, sử dụng trái phép, vì hậu quả nguy hại của n đối với s c khỏe con ngư i trong cộng đ ng và trật tự trị an x hội. Tuy nhận th c đư c điều này nhưng bị cáo là con nghiện, khi đến cơn bị cáo c nhu c u sử dụng để thỏa m n cơn nghiện nên bị cáo bất chấp sự tr ng trị của pháp luật, bất chấp hậu quả mà ma t y mang lại v n cố ý thực hiện hành vi tàng tr trái phép. Hành vi của bị cáo Hu nh Thanh A là cố ý, gây nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma t y, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Do đ c n thiết phải xử lý nghiêm kh c đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi x hội một th i gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ng a tội phạm chung.

. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo c nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: khi quyết định hình phạt sẽ

xem xét cho bị cáo, tại Cơ quan điều tra c ng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo

đ thành khẩn khai báo nên đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s

khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở cân nh c tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất m c

độ hành vi phạm tội c ng như nhân thân của bị cáo xét thấy: Hành vi của bị cáo

gây nguy hại cho x hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên

c n xử lý bằng một m c án nghiêm kh c tương x ng với hành vi phạm tội của

của bị cáo, m c hình phạt này không chỉ nhằm tr ng trị bị cáo mà còn giáo dục

bị cáo trở thành ngư i c ích cho x hội, c ý th c tuân theo pháp luật và các

quy t c của cuộc sống x hội chủ ngh a, ngăn ng a bị cáo phạm tội mới. Ngoài

ra m c hình phạt đối với bị cáo còn nhằm giáo dục ngư i khác tôn trọng pháp

luật, đấu tranh phòng ng a và chống tội phạm chung.

Đối với các đối tư ng đ bán ma t y cho bị cáo A, do không xác định

đư c nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố J không có

cơ sở để xử lý là ph h p với quy định của pháp luật.

. Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố J:

kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố j về tội danh, điều

luật áp dụng, m c hình phạt là tương x ng với m c độ hành vi phạm tội của bị

cáo.

. Về xử lý vật ch ng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 g i nylon không màu c kh a nhựa kéo một đ u,

kích thước (1,5x4 cm bên trong ch a tinh thể màu tr ng. (được niêm phong và

ký hiệu M khi giám định), 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8x4x3 cm.

- Đối với xe mô tô hiệu Suzuki, biển số 70G1- 1XX.X8, không xác định

đư c số máy, số khung. Do chưa xác định đư c chủ sở h u của chiếc xe trên

nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm gi , làm r xử lý sau.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều

135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Hu nh Thanh A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”.

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hu nh Thanh A 15 (Mƣời lăm) tháng tù.

Th i hạn t tính t ngày b t giam thi hành án.

[2] Biện pháp tư pháp: Căn c các điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c

khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 g i nylon không màu c kh a nhựa kéo một đ u,

kích thước (1,5x4 cm bên trong ch a tinh thể màu tr ng. (được niêm phong và ký hiệu M khi giám định), 01 hộp nhựa màu đỏ, kích thước (8x4x3 cm.

(Tất cả tang vật ch ng đều như biên bản về việc giao nhận vật ch ng, tài

sản số 04, ngày 05/10/2020 gi a Công an thành phố J và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố J).

- Đối với xe mô tô hiệu Suzuki, biển số 70G1- 1XX.X8, không xác định

đư c số máy, số khung. Do chưa xác định đư c chủ sở h u của chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm gi , làm r xử lý sau.

[3] Về án phí: Căn c khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố

tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hu nh Thanh A phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày

tuyên án (26/10/2020).

Cỡ chữ