vanban.org

Bản án 149/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị N đối với anh Nguyễn Văn T về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2/ Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh ngày 16/02/2016. Xử giao cho chị Lê Thị N được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Vũ L. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị N tranh chấp ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị N đối với anh Nguyễn Văn T về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2018
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Ánh Sáng

2. Bà Mai Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 358/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về“Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1994.

HKTT: ấp AH, xã AB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

Tạm trú: số A, tổ B, ấp AL, xã LA, H. LT, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989.

HKTT: số C, ấp D, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2018, các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên Tòa, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Chị và anh T chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã LA, huyện LT cấp giấy chứng nhận kết hôn số 91/2015 quyển số 01/2015. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung không hạnh phúc, do anh T không có công ăn việc làm ổn định, không có trách nhiệm với gia đình, nghi ngờ anh T sử dụng ma túy đá. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, đã bàn bạc nhiều lần nhưng anh T không sửa chữa khuyết điểm. Nếu kéo dài đời sống chung với anh T có thể sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của hai mẹ con chị. Vì vậy, chị và con đã ra ngoài thuê nhà trọ sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2017. Nay chị xác định chị không còn tình cảm với anh T, mục đích hôn nhân không đạt. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh ngày 16/02/2016. Hiện do chị đang nuôi dưỡng. Ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng, vì anh T không có khả năng cũng không có trách nhiệm với con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lí do

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo khách quan, toàn diện và dân chủ trong tranh tụng. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo luật định, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo luật định.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống ly thân từ tháng 8/2017, không bàn bạc đoàn tụ. Cho thấy, mâu thuẫn đã trầm trọng. Vì vậy, chị N yêu cầu được ly hôn anh T là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị N được ly hôn anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh ngày 16/02/2016. Hiện cháu L dưới 36 tháng tuổi và chị N đang nuôi dưỡng. Chị N có yêu cầu được nuôi con chung là phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 giao cháu L cho chị N được quyền nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, chị N không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân giữa chị N, anh T xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã LA, huyện LT đúng quy định pháp luật, theo giấy chứng nhận kết hôn số 91/2015 ngày 01/10/2015 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh T nhưng anh T không chấp hành tống đạt của Tòa án nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được. Cho thấy anh T không có trách nhiệm với mối quan hệ hôn nhân với chị N.

Qua xác minh tại địa phương thì được biết anh T ăn chơi, thường xuyên tụ tập bạn bè, không chăm lo cuộc sống gia đình. Xét phù hợp với lời khai chị N về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng. Vì vậy, xét quan hệ hôn nhân giữa chị N, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng nên việc chị N yêu cầu được ly hôn anh T là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh ngày 16/02/2016, do chị N đang nuôi dưỡng. Xét cháu L dưới 36 tháng tuổi, chị N đảm bảo điều kiện nuôi con tốt. Vì vậy, chị N yêu cầu được nuôi con chung là phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng chị N không yêu cầu nên không xem xét. Khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.

Về án phí: Anh T không phải chịu án phí. Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị N đối với anh Nguyễn Văn T về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2/ Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Vũ L, sinh ngày 16/02/2016. Xử giao cho chị Lê Thị N được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Vũ L.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét

Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ và có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Trừ trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 002276 ngày 22/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, chị N đã nộp đủ án phí.

Chị Lê Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đồng Nai (1),

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND h. Long Thành (1),

- Chi cục THADS h. Long Thành (1),

- UBND xã LA (1);

- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);

- Đương sự (2),

- Lưu (3).

Nguyễn Thị Thanh Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ánh Sáng Mai Thị Huệ

Nguyễn Thị Thanh Hà

Cỡ chữ