vanban.org

Bản án 149/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 231 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 149/ 2017/HSST.
Ngày 30-8 -2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân nhân:

1. Ông: Nguyễn Hữu Hải

2. Bà: Lường Thùy Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Thức - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệnThuận Châu, tỉnh Sơn La, mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152 /2017/HSST ngày 3 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Quàng Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh năm 1998 tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản T, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Nguyên là nghề trồng trọt; con ông: Quàng Văn O, sinh năm 1975 và bà Lò Thị D sinh năm 1975; vợ chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thuận Châu , tỉnh Sơn La từ ngày 15/6/2017 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 15/6/5/2017, bị cáo Quàng Văn Q đang chơi ở quán Internet tại bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thì bị cáo gặp một người quen cũ tên là Phái ( bị cáo không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ nhà ở ). Khi gặp nhau đối tượng Phái nhờ bị cáo mua hộ hai viên hồng phiến và một lượng Heroin với giá 700.000đ ( bảy trăm ngàn đồng), mục đích là đem về sử dụng. Bị cáo Q đồng ý và nhận tiền do đối Phái đưa rồi bảo đối tượng Phái ra đường thuộc bản Nà Hày, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đợi. Sau đó bị cáo đi xe máy vào nhà Quàng Thị Văn trú tại: bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn để hỏi mua ma túy. Khi gặp đối tượng Văn bị cáo đã hỏi và mua được hai viên hồng phiến và một gói Heroin được gói bằng giấy nilon màu trắng với giá 700.000đ ( bảy trăm ngàn đồng ). Khi mua được ma túy bị cáo cầm gói ma túy trong tay rồi điều khiển xe máy ra chỗ đối tượng Phái đang đợi, đi đến khu vực bản Nà Hày, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroin và hai viên nén hình trụ màu hồng; một xe Môtô nhãn hiệu HON DA, loại xe Wave sơn màu xanh BKS 26B1- 034.25 (BL1-2 HS).

Hồi 21giờ 50 phút cùng ngày tại Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh số bột màu trắng thu giữ được của Quàng Văn Q có trọng lượng 0,39gam ( không phẩy ba mươi chín gam), rút 0,05 gam ký hiệu Q1làm mẫu gửi giám định chất ma túy. Số bột cục màu trắng còn lại có trọng lượng 0,34 gam ký hiệu Q2 đã niêm phong nhập kho vật chứng; hai viên nén hình trụ màu hồng có trọng lượng 0,19 gam, rút toàn bộ ký hiệu Q3 làm mẫu giám định chất ma túy. (BL: 19 HS)

Tại kết luận giám định số: 638/KLMT ngày 20/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Q1 là chất ma túy; loại chất Heroin. Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng trọng lượng của chất ma túy thu giữ được là 0,39 gam loại chất Heroin; mẫu giám định ký hiệu Q3 là ma túy, loại chất Methamphetamin, trọng lượn là 0,19gam, quy đổi ra He roin là 0,063 gam Herion; như vậy tổng trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ là: 0,453gam.(BL: 21HS).

Bản cáo trạng số115/KSĐT ngày 3/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị can Quàng Văn Q về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên Q định truy tố đối với Quàng Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS1999; NghịQ số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Quàng Văn Q mức án từ 14 tháng đến 18 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 15/6/2017( là ngày bắt giữ bị cáo ).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS.

Áp dụng Điểm a khoản 2 điều 76 BLTTHS tuyên:

Tiêu hủy 0,34gam (không phẩy ba mươi tư gam) chất bột Heroin, ký hiệu Q2 đã niêm phong.

Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông: Nguyễn Khánh Toàn một xe Môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave sơn màu xanh BKS 26B1-034.25.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định.

Lời nói sau cùng của bị cáo Quàng Văn Q: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay bị cáo đã thực sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo xin miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu,tỉnh Sơn la, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi tàng trữ trái phép 0,453gam Heroin của bị cáo Quàng Văn Q nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi, bị cáo có trình độ nhận thức pháp luật và là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức được hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Tại Điều 194 BLHS 1999 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tuy Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật nhưng mức hình phạt đối với tội Tàng trữ trái phép ma túy thấp hơn, có lợi hơn cho bị cáo so với Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại Điều 249 BLHS 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………………………….

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Theo Nghị Q 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và công văn 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Toà án nhân dân tối cao; Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 để xét xử đối với bị cáo Quàng Văn Q theo hướng có lợi cho bị cáo, tạo cơ hội cho bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, trị an ở địa phương và gây dư luận xấu trong xã hội.

Xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy không lớn, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1Điều 46 BLHS năm 1999.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 48 BLHS năm 1999

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử Q định không áp dụng.

Vật chứng vụ án:

- Đối với 0,34gam (không phẩy ba mươi tư gam), ký hiệu Q2 chất bột Heroin là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tuyên tiêu hủy.

- Đối với một xe Môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave sơn màu xanh BKS 26B1- 034.25, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, nhưng xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Khánh Toàn, việc bị cáo mượn rồi đi mua ma túy ông Toàn không biết, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Toàn là đúng luật, không đặt ra xem xét lại.

Đối với đối tượng có tên Phái, theo bị cáo khai là người đưa tiền cho bị cáo mua ma túy hộ. Nhưng bị cáo không biết họ tên đầy đủ cũng như địa chỉ của đối tượng phái, tại phiên tòa bị cáo cũng không cung cấp được chứng cứ mới. Do vậy không có cơ sở đề nghị cơ quan điều tra xác minh làm rõ.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự, để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 99 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q 326/2016/UBTVQ H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

3.Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS1999; Nghị Q 41/2017/QH14ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Quàng Văn Q: 14 ( Mười bốn) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 15/6/2017 ( là ngày bắt giữ bị cáo ).

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Quàng Văn Q

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điểm a khoản 2 điều 76 BLTTHS tuyên:

-Tiêu hủy 0,34gam (không phẩy ba mươi tư gam), ký hiệu Q2 chất bột Heroin.

- Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông: Nguyễn Khánh Toàn một xe Môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave sơn màu xanh BKS 26B1-034.25.

4. Án phí: Áp dụng: Điều 99 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q 326/2016/UBTVQ H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Quàng Văn Q phải án phí hình sự sơ thẩm là; 200.000đ.

5. Về quyền kháng cáo.

Áp dụng Điều 231, 234 BLHS báo cho bị cáo Quàng Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ