- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Trần Long T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2026/HS-ST Ngày 23/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Trang
2. Bà Hoàng Thị Bích Diệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thuỷ- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 23/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Trần Long T, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; CCCD số: 001095032109; HKTT: 33 Tổ E (nay là tổ B) phường H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Nơi ở: Số A ngách B T, phường H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Họ tên bố: Trần Văn L. Họ tên mẹ: Đỗ Tuyết H. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Theo D chỉ bản số 000005349 lập ngày 20/10/2025 tại PC11B- Công an thành phố H. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h00’ ngày 10/10/2025, tại khu vực trước số A ngách B T, phường H, Hà Nội, tổ công tác Công an phường H đang xác minh làm rõ vụ mua bán trái phép chất ma túy xảy ra tại trước số I ngõ B đường Â, phường H, thành phố Hà Nội ngày 10/10/2025, phát hiện Trần Long T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 02 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô và khai nhận đây là ma túy cần sa T đang cất giữ để bán kiếm lời. Ngoài ra T khai còn đang cất giấu ma túy cần sa tại nơi ở của T để bán kiếm lời nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra nơi ở của T tại phòng phía bên phải cầu thang tầng 3 nhà số A ngách B T, phường H, Hà Nội phát hiện và thu giữ số vật chứng gồm:
- 01 túi nilon màu đen bên trong có 37 túi nilon bên trong đều chứa thảo mộc khô;
- 01 túi nilon màu xanh bên trong có 296 túi bên trong đều chứa thảo mộc khô;
- 01 cân điện tử màu bạc đã qua sử dụng;
- 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô;
- 01 thùng catton bên trong chứa 05 túi nilon màu đen bên trong đều chứa thảo mộc khô.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu đen, IMEI1: 867238080689837; IMEI2: 867238080710245 đã qua sử dụng.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở để làm rõ.
Tại Bản Kết luận giám định số 7169/KL-KTHS ngày 20/10/2025 của Phòng K
- Công an thành phố H kết luận:
“Tang vật thu giữ của Trần Long T gồm:
- Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon là cần sa, khối lượng 1,710 gam;
(gồm 02 túi nilon thu giữ khi kiểm tra ban đầu)
- Thảo mộc khô bên trong 05 túi nilon màu đen và 334 túi nilon màu trắng đều là cần sa, tổng khối lượng 1411,730 gam;
- 01 cân điện tử màu bạc có dính cần sa”.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Long T khai nhận: Bản thân T không có công ăn việc làm ổn định, nhận thấy việc bán ma túy có nguồn thu lợi lớn nên T đã nảy sinh ý định bán ma túy cần sa để kiếm lời. Ngày 22/9/2025, T đặt mua ma túy cần sa của một người đàn ông không quen biết qua ứng dụng Telegram với giá 8.000.000 đồng và cung cấp địa chỉ giao ma túy cho người bán. Sau đó có 01 người đàn ông đeo khẩu trang không rõ đặc điểm đến giao ma túy cho T. Sau khi nhận ma túy T trả tiền mặt cho người đàn ông này. Tin nhắn T1 sau đó đã bị xóa. Sau khi mua được ma túy T mang số ma túy cần sa vừa mua được về nhà rồi chia nhỏ vào các túi nilon mục đích để bán cho khách với giá 150.000 đồng/01 túi để kiếm lời. Tối ngày 10/10/2025, T đang đi bộ đi uống nước về thì có một nam thanh niên đến hỏi mua của T 02 túi cần sa với giá 300.000 đồng. T đồng ý và hẹn giao dịch mua bán ma túy với nam thanh niên này tại đầu ngõ B T. Sau khi thỏa thuận T đi về nhà lấy 02 túi nilon chứa cần sa cất ở túi quần bên phải rồi đi bộ ra đầu ngõ 272 Trần Khát C để bán cho nam thanh niên trên thì bị tổ công tác Công an phường H kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Đối với vụ mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 10/10/2025 tại trước số I ngõ B đường Â, phường H, thành phố Hà Nội, quá trình xác minh Công an phường H đã ghi lời khai Đinh Nam P (SN 1998; Trú tại: Số F hẻm H ngách E ngõ L, tổ F phường V - Q, Hà Nội). Ban đầu, Nam P khai mua ma túy cần sa của Trần Long T vào khoảng 17 giờ ngày 03/10/2025 tại khu vực đầu ngõ B T, phường H, Hà Nội. Tại cơ quan điều tra T khai chưa từng bán ma túy cho Nam P và không nhận dạng được N. Do có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa T và N nên ngày 05/02/2026, cơ quan CSĐT C1 đã phối hợp cùng Viện KSND khu vực 3 Hà Nội tiến hành đối chất giữa Trần Long T và Đinh Nam P. Kết quả T và P đều khẳng định chưa từng mua bán giao dịch ma túy với nhau. Trước đó P khai từng mua ma túy của T do lúc bị bắt P lo sợ nên khai không đúng sự thật. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 03/10/2025.
Tại bản cáo trạng số 230/CT-VKSKV3 ngày 07/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 đã truy tố bị cáo Trần Long T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Trần Long T giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo thành khẩn khai báo và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Long T từ 03 năm- 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1413,44 gam ma túy thảo mộc khô là cần sa, 01 cân điện tử màu bạc có dính cần sa. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu đen đã qua sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, Trần Long T đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản hiện trường, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22h00’ ngày 10/10/2025, tại số A ngách B T, phường H, Hà Nội khi Trần Long T đang cất giấu trái phép 1413,44 gam ma túy cần sa để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an phường H - Công an thành phố H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ tang vật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi ma túy đang là một vấn nạn nhức nhối, là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn xã hội. Ma túy không những là nguyên nhân hủy hoại sức khỏe, gây suy giảm giống nòi, suy thoái đạo đức lối sống, làm thiệt hại nền kinh tế mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng vì đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình lo lắng cho nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Về nhân thân, tiền án tiền sự và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Long T là người đã trưởng thành, đủ nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và làm bài học, răn đe người khác. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo trình độ văn hoá thấp, mới chỉ học hết lớp 3/12, nhận thức pháp luật không đầy đủ, hoàn cảnh bố mất sớm, một mẹ một con, neo đơn khó khăn. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo. [5] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt tù bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, do T khai không biết nhân thân, lai lịch cụ thể của người này, khi trao đổi mua ma túy T và người đàn ông chỉ trao đổi liên lạc qua ứng dựng Telegram, sau đó người đàn ông này mang ma túy đến nhà giao ma túy trực tiếp cho T và nhận tiền mặt từ T. Khi T bị bắt giữ thì tài khoản Telegram đã bị xóa hết thông tin. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ, xử lý. [7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 1413,44 gam Thảo mộc khô là cần sa, đây là chất độc hại, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu đen, IMEI1: 867238080689837; IMEI2: 867238080710245 đã qua sử dụng thu giữ của Trần Long T. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định là tài sản cá nhân của T dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu tiêu huỷ Đối với chiếc cân điện tử màu bạc đã qua sử dụng có dính cần sa, Trần Long T khai nhận đây là phương tiện T sử dụng để chia nhỏ ma túy cần sa vào các túi nilon mục đích để bán kiếm lời nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Long T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 331, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố Trần Long T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Trần Long T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H1, cán bộ công an phường H- M, đối tượng Trần Long T bên trong chứa toàn bộ tang vật sau khi Phòng P1 thu mẫu giám định (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 11/10/2025 tại Phòng PC09- Công an thành phố H; Bản kết luận giám định số 7169/KL- KTHS ngày 20/10/2025 của Phòng K- Công an thành phố H).
- 01 (một) thùng catton nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H1, cán bộ công an phường H- M, đối tượng Trần Long T bên trong chứa toàn bộ tang vật sau khi Phòng P1 thu mẫu giám định (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 11/10/2025 tại Phòng PC09 Công an thành phố H; Bản kết luận giám định số 7169/KL- KTHS ngày 20/10/2025 của Phòng K- Công an thành phố H).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu đen, IMEI1: 867238080689837; IMEI2: 867238080710245 thu giữ của Trần Long T (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Thi hành án dân sự Khu vực 3- thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 2026/KV3-358.GN/THA-CA ngày 17/9/2025).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Long T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 3; - THADS thành phố Hà Nội; - Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - Lưu HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Kim Oanh |