vanban.org

Bản án 148/2026/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321của Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo Trần Thanh B số tiền 15.

Bị cáo Trần Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321của Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo Trần Thanh B số tiền 15.
  • Căn cứ chính? Bộ luật hình sự phạt tiền; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 148/2026/HS-PT
Ngày 15 tháng 4 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân

Các Thẩm phán: ông Phùng Anh Dũng, ông Nguyễn Tấn Long

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trương Quang Hưng

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Xuân Thanh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 15 tháng 4 năm 2026, mở phiên tòa công khai tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2026/TLPT-HS ngày 10/3/2026 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 11/2026/HS-ST ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 678/2026/QĐXXPT-HS ngày 31/3/2026 của Tòa phúc Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, đối với:

Bị cáo kháng cáo: Trần Thanh B, sinh ngày 17/5/1978, tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh S, sinh năm 1947 và bà Đoàn Thị Đ, sinh năm 1948; bị cáo có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1975 và 02 con, con lớn sinh năm 1997 và con nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án: 02 tiền án, cụ thể:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2011/HSPT ngày 11/03/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về “Tội đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích;

- Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2021/HSPT ngày 26/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 14/12/2023 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 13/12/2018 bị Ủy ban nhân dân quận C xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Tháng 3 năm 2021, bị Công an quận N, thành phố Đà Nẵng xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2025 đến ngày 28/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, vắng mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Kiều Thị C, Nguyễn G, Trần Thị Mỹ H1, Huỳnh Văn T1, Đỗ Minh H2, nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Chiều ngày 28/6/2025, Kiều Thị C đang bán nước tại quán C1 của ông Nguyễn Quốc M thuộc thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk) thì Trần Thanh B, Nguyễn G, Đỗ Minh H2, Trần Thị Mỹ H1, Huỳnh Văn T1 và một số người khác đến quán uống nước. Tại đây, B, G, H2, H1, T1 và một số đối tượng khác cùng nảy sinh ý định đánh bạc (dưới hình thức xóc dĩa bằng vỏ hạt dưa) được, thua bằng tiền nên đã thống nhất với nhau để đặt vấn đề với C về việc C cho sử dụng quán C1 để những người này đánh bạc được, thua bằng tiền, sẽ thu tiền xâu để trả công cho C. Sau khi thống nhất, các đối tượng sử dụng phin pha cà phê, vỏ hạt dưa, bàn ghế có sẵn tại quán của C để đánh bạc (dưới hình thức xóc dĩa bằng vỏ hạt dưa) được, thua bằng tiền. Khi đánh bạc thì B là người xóc cái để các con bạc đặt cược. Hình thức đánh xóc dĩa bằng vỏ hạt dưa và cách thắng, thua như sau: Những người tham gia chơi đánh bạc có một người đứng ra làm cái, người làm cái sẽ xóc 04 vỏ hạt dưa (được bóc tách từ hạt dưa thành vỏ, gồm một mặt trắng và một mặt đen) được để trong 01 phin pha cà phê, đậy bằng 01 nắp phin pha cà phê để xác định kết quả chẵn hay lẻ. Kết quả là chẵn khi 04 con vị xuất hiện các trường hợp như sau: 4 mặt trắng; 4 mặt đen; 2 mặt trắng, 2 mặt đen; kết quả là lẻ khi 04 con vị xuất hiện các trường hợp sau: 1 mặt trắng, 3 mặt đen; 3 mặt trắng, 1 mặt đen. Khi người làm cái xóc vỏ hạt dưa xong, những người khác bắt đầu tham gia đặt cược, người chơi có thể chọn bên chẵn (được quy ước là bên tay phải của người làm cái) hoặc chọn bên lẻ (được quy ước là bên tay trái của người làm cái) thì đặt số tiền cá cược xuống chiếu bạc. Sau đó, người cầm cái mở phin để tính thắng, thua và chung tiền theo tỷ lệ 1 - 1. Nếu người chơi đặt tiền ở bên chẵn và kết quả xóc vỏ hạt dưa là chẵn thì người chơi thắng, nếu người chơi đặt tiền ở bên chẵn nhưng kết quả xóc vỏ hạt dưa là lẻ thì người chơi thua, hoặc ngược lại. Đến khoảng 15 giờ 30 ngày 28/6/2025, trong lúc các bị cáo đang đánh bạc thì bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ bắt quả tang. Tạm giữ số tiền 21.600.000 đồng (trong đó thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 5.800.000đ; tạm giữ trên người các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc số tiền là 15.500.000đ; tạm giữ trên người của C số tiền là 480.000 đồng) cùng một số đồ vật phục vụ đánh bạc. Khi cơ quan Công an bắt quả tang thì một số đối tượng đã về trước; một số đối tượng vút tiền ra chiếu bạc và chạy trốn được.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:

Tạm giữ trên chiếu bạc: Số tiền 5.800.000 đồng; 01 (một) phin pha cà phê (có nắp đậy) bằng nhôm, màu xám, đường kính miệng phin 11x6 cm; 04 (bốn) vỏ hạt dưa; 01 (một) cái bàn nhựa màu vàng; 06 (sáu) cái ghế nhựa loại ghế có tựa màu vàng.

Tạm giữ trên người của: Kiều Thị C số tiền: 480.000 đồng (trong đó: 300.000 đồng là các con bạc trả công cho C; 180.000 đồng là tiền bán nước); Trần Thanh B: 4.400.000 đồng; Trần Thị Mỹ H1: 50.000 đồng; Đỗ Minh H2: 3.000.000 đồng; Nguyễn G: 7.000.000 đồng; Huỳnh Văn T1: 1.050.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2026/HS-ST ngày 22/01/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2025 đến ngày 28/8/2025.

3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321của Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo Trần Thanh B số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, quyết định về xử lý vật chứng, án phí.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Bị cáo Trần Thanh B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Trần Thanh B vắng mặt.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Thấy rằng bị cáo B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tuy vắng mặt nhưng xét sự vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc xem xét kháng cáo của bị cáo nên đề nghị tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt bị cáo B.

+ Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo.

- Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Trần Thanh B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét, sự vắng mặt của bị cáo B không ảnh hưởng đến việc xem xét kháng cáo của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt bị cáo B như đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng.

Chiều ngày 28/6/2025, tại quán C2 của ông Nguyễn Quốc M (là con trai bị cáo Kiều Thị C) thuộc Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk), khi đang trông coi quán cho con trai mình thì Kiều Thị C đã đồng ý cho các bị cáo khác gồm: Trần Thanh B, Nguyễn G, Đỗ Minh H2, Trần Thị Mỹ H1, Huỳnh Văn T1 và một số đối tượng khác không rõ lai lịch, cùng tham gia đánh bạc tại quán, dưới hình thức xóc dĩa bằng vỏ hạt dưa thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang thu giữ tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 21.600.000 đồng và các tang vật, đồ vật sử dụng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo Trần Thanh B đã bị kết án 2 lần về các tội đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy, trong lần kết án thứ 2 bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tái phạm, trong thời gian chưa được xóa án tích bị cáo B tiếp tục phạm tội mới do lỗi cố ý, do đó hành vi đánh bạc của bị cáo trong vụ án này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Biệt phạm vào “Tội đánh bạc” quy định tại Điều 321. Tội đánh bạc: 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:…d) Tái phạm nguy hiểm là đúng tội danh, đúng khung hình phạt, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thanh B thấy khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự về “Tội đánh bạc” có khung hình phạt tù từ 3 năm đến 7 năm; bị cáo B là người tham gia tích cực với vai trò là người trực tiếp tham gia cầm cái, số tiền bị cáo tham gia đánh bạc là 1.500.000 đồng, bị cáo có nhân thân xấu; tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện nên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 3 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới nên cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo. Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên án phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên mức hình phạt mà bản án hình sự sơ thẩm số 11/2026/HS-ST ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt bị cáo Trần Thanh B, cụ thể:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Thanh B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2025 đến ngày 28/8/2025.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321của Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo Trần Thanh B số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Trần Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ