- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thanh T được ly hôn anh Trần Quang C.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2026/HNGĐ-ST Ngày 26-8-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khúc Thị Minh ,
Bà Tạ Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Nhật Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 365/2026/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 7 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2026/QĐXX-ST ngày 11 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1997; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021.
Địa chỉ cư trú: Đ, phường H, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Quang C, sinh năm 1997; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 11/8/2021.
Địa chỉ cư trú: Đ, phường H, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Trần Quang C vào ngày 13/4/2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng (nay là UBND phường D, thành phố Hải Phòng). Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình, không còn tôn trọng, quan tâm đến nhau. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 01/2026 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài; chị xin ly hôn anh Trần Quang C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Trần Gia H, sinh ngày 04/10/2022, hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con đến khi đủ 18 tuổi. Chị yêu cầu anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
Bị đơn anh Trần Quang C trình bày: Thống nhất với chị T về thời gian điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc và nguyên nhân mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 01/2026 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài; anh đồng ý ly hôn chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Trần Gia H, sinh ngày 04/10/2022, hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh đồng ý để chị T tiếp tục nuôi dưỡng con đến khi đủ 18 tuổi. Anh đồng ý nhận nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là 3.000.000 đồng/tháng.
Do bận công việc nên anh xin được vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa công bố đơn của các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị T xin ly hôn anh C và yêu cầu giải quyết về nuôi con. Anh C cư trú tại Đ, phường H, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Chị T và anh C vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đều đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C xác lập quan hệ vợ chồng theo đúng quy định về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 13/4/2022 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng (nay là UBND phường D, thành phố Hải Phòng). Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình, không còn tôn trọng, quan tâm đến nhau. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 01/2026 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị T xin ly hôn, anh C đồng ý. Xét hôn nhân giữa chị T và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn anh C là phù hợp.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Trần Gia H, sinh ngày 04/10/2022. Các đương sự đã có ý kiến bằng văn bản đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu H đến khi đủ 18 tuổi, anh C đồng ý thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là 3.000.000 đồng/tháng. Xét thấy hiện nay cháu H đang được chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định; chị T có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; cần giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con 3.000.000 đồng/tháng là phù hợp, được chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm, ngày 26/8/2026.
Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, anh C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83; 107; 110 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thanh T được ly hôn anh Trần Quang C.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 04/10/2022 cho chị Bùi Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Trần Quang C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là 3.000.000 đồng/tháng (ba triệu đồng/tháng); thời gian từ ngày 26 tháng 8 năm 2026 hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Bùi Thị Thanh T cho đến khi thi hành án xong khoản tiền cấp dưỡng cho con, anh Trần Quang C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 3. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000622 ngày 16 tháng 7 năm 2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị Thanh T đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Trần Quang C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 34, 36, 72 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Khúc Thị Minh
Tạ Thị Hương
Phạm Thị Ngà
| Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND khu vực 6 – Hải Phòng; - THADS thành phố Hải Phòng; - Các đương sự; - UBND phường Dương Kinh; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngà |