vanban.org

Bản án 148/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 19/09/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Thị T;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 12 – Tây Ninh). 1. Xử phạt bị cáo Đào Thị T (B) 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐÁNH BẠC - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Thị T;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2025/HS-PT
Ngày: 19-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Tuấn;

2. Bà Dương Thuý Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trần Khánh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Đào Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 12 – Tây Ninh).

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Đào Thị T (tên gọi khác: Bù T1), sinh năm 1973, tại tỉnh Tây Niinh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp X, xã T, huyện G (nay là phường G), tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Văn Y (đã chết) và bà Phạm Thị C (đã chết); chồng: Nguyễn Văn T2 (đã ly hôn), con: có 02 người; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 25/12/2024, Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh, bắt quả tang Nguyễn Thị C1 làm cái lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cho Trần Văn Q, Phạm Thị H, Nguyễn Thị T3, Đào Thị T, Lê Văn T4, Châu Thị D, Phạm Thành Q1 và 02 người thanh niên, không rõ lý lịch, tham gia đặt cược mỗi ván từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Thu giữ vật chứng tại chiếu gồm: 03 hột xí ngầu, 01 tấm gạch men, 01 tấm manh và 10.300.000 đồng; thu giữ số tiền dùng đánh bạc trên người của các đối tượng gồm, T 2.400.000 đồng, D 510.000 đồng, T4 1.500.000 đồng, Q1 30.000 đồng, Q 1.500.000 đồng. C1 và 02 người thanh niên không rõ lý lịch chạy thoát; sau đó, C1 ra đầu thú và giao nộp 1.280.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định sòng bạc do C1 tổ chức vào khoảng 11 giờ ngày 25/12/2025, C1 đem theo 2.980.000 đồng và bộ D1 lắc tài xỉu đến đường hẻm phía trước nhà bà Phạm Thị B thuộc ấp X, xã T, huyện G (nay là phường G), tỉnh Tây Ninh, làm cái lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cho Q, H, T3, T, T4, D, Q1 và 02 người thanh niên, không rõ lý lịch, tham gia đặt cược mỗi ván từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Khi tham gia đánh bạc, T4 sử dụng 3.330.000 đồng, T sử dụng 2.500.000 đồng, Q sử dụng 480.000 đồng, T3 sử dụng 150.000 đồng, H sử dụng 100.000 đồng, D sử dụng 100.000 đồng và Q1 sử dụng 50.000 đồng để đánh bạc. khi bị bắt quả tang, C1 thua 1.700.000 đồng, Quốc thua 450.000 đồng, H thua 100.000 đồng, T3 thua 150.000 đồng, T thắng 100.000 đồng, T4 thắng 1.770.000 đồng, D thua 60.000 đồng và Q1 thua 20.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: tiền Việt Nam: 17.520.000 đồng; 03 hột xí ngầu; 01 tấm gạch men; 01 tấm manh; 02 điện thoại di động.

Về kê biên tài sản: qua xác minh xác định các bị cáo C1, Q, H, T3, T, T4, D và Q1 không có sở hữu tài sản riêng có giá trị nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu (nay là Toà án nhân dân Khu vực 12), tỉnh Tây Ninh, đã quyết định (tóm tắt).

Tuyên bố bị cáo Đào Thị T (B) phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Thị T (B) 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 03/01/2025.

Ngoài ra, bản án còn xét xử 07 bị cáo khác về tội “Đánh bạc”, quyết định xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/6/2025, bị cáo Đào Thị T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đào Thị T trình bày ý kiến: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày ý kiến: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đào Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu xác định có ông ngoại ruột là ông Phạm Văn B1 là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, có cậu ruột là ông Phạm Văn Đ là Liệt sĩ, là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt 09 tháng tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra, không nặng, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo T không trình bày ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng T: bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 16/6/2025 bị cáo Đào Thị T có đơn kháng cáo; đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo hợp lệ phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Hành vi của bị cáo thực hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: vào khoảng 11 giờ ngày 25/12/2024, tại ấp X, xã T, huyện G (nay là phường G), tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thị C1 làm cái lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cho Trần Văn Q, Phạm Thị H, Nguyễn Thị T3, Đào Thị T, Lê Văn T4, Châu Thị D, Phạm Thành Q1 và 02 người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch tham gia đặt cược. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày bị bắt quả tang thu giữ số tiền tại chiếu bạc là 10.300.000 đồng, thu trên người các con bạc là 7.250.000 đồng, tổng cộng giá trị chiếu bạc là 17.200.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo T Hội đồng xét xử thấy rằng:

Khi tham gia đánh bạc bị cáo mang theo số tiền 2.500.000 đồng, tham gia đặt tụ, đặt 03 ván, số tiền mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, thắng được 100.000 đồng. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt 09 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu xác định có ông ngoại ruột là ông Phạm Văn B1 là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba, có cậu ruột là ông Phạm Văn Đ là Liệt sĩ, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tình tiết này Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, gia đình có công Cách mạng, chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng không gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm..

Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Thị T, sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Thị T;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 12 – Tây Ninh).

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

1.1. Xử phạt bị cáo Đào Thị T (B) 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 16/9/2025).

1.3. Giao các bị cáo Đào Thị T cho Ủy ban nhân dân phường G, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

1.4. Trường hợp các bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

1.5. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ thi hành án hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Đào Thị T (Bù T1) không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ