vanban.org

Bản án 148/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Khánh M phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Khánh M 02 (hai) năm tù. Thời hạn t tính từ ngày 20/01/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Khánh M - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Khánh M phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/HS-ST
Ngày: 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Bình Hòa

Ông Trần Quang Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2024/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Khánh M, sinh ngày 30 tháng 8 năm 2000 tại tỉnh Bình Dương. Nơi cư trú: Tổ 24, Khu phố 3, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ h c v n: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ng c N và Quách Quỳnh A; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22 5 2018, bị T a án nhân dân thành phố T xử phạt 01 năm 06 tháng t về tội “Vận chuyển trái phép ch t ma túy”; ngày 15/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố T ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 tháng; bị bắt, tạm giam ngày 20/01/2024; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Dương Minh V; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 20 01 2024, Công an phường T, thành phố Thủ Dầu Một kiểm tra hành chính nhà số 593, Tổ 24, Khu phố 3, phường T, thành phố Thủ Dầu Một phát hiện Trần Khánh M đang cầm 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; M khai tinh thể màu trắng là ma túy đá do M mua về sử dụng. Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M và thu giữ 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Quá trình điều tra, Trần Khánh M khai: M là người nghiện ma túy; ngày 19/01/2024, M đi đến xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người nam tên T hỏi mua 300.000 đồng ma túy, M đưa cho T 300.000 đồng, còn T đưa lại cho M 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy. Sau đó, M đem ma túy về nhà gi u; đến khoảng 20 giờ 50 phút ngày 20/01/2024, M l y ma túy ra định đem đi sử dụng thì bị phát hiện.

Tại Kết luận giám định số 582/KT-KTHS (MT) ngày 26/01/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: 01 bì thư được niêm phong, có chữ ký của người bị bắt Trần Khánh M, người chứng kiến Dương Minh V, cán bộ niêm phong Đoàn Văn T và hình d u đỏ của Công an phường T, thành phố Thủ Dầu Một. Bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, khối lượng: 0,4545 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một gồm: Khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định 0,2272 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 153/CT-VKSTDM ngày 01/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố bị cáo Trần Khánh M để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên t a, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Khánh M từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.

Tại phần tranh luận, bị cáo Trần Khánh M không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.

Bị cáo Trần Khánh M nói lời sau c ng: Bị cáo th y việc làm của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên t a, bị cáo Trần Khánh M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên t a phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, vật chứng của vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xác định hiện trường, kết luận giám định khối lượng mẫu vật, loại ch t ma túy và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Ngày 20/01/2024, tại nhà Tổ 24, Khu phố 3, phường T, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Trần Khánh M đã có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy có tổng khối lượng 0,4545, loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trần Khánh M để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Về nhận thức: Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép ch t ma tuý là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vì mục đích cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện; do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các ch t ma tuý, gây tác hại x u đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Do đó, với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện phải có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính ch t, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã bị kết án về tội vận chuyển trái phép ch t ma túy và đã bị Tòa án đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, nên với lần phạm tội này phải xử phạt nghiêm bị cáo. Do đó, cần quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cao hơn so với đề nghị của Viện Kiểm sát để răn đe và ph ng ngừa tội phạm chung.

Đối với người nam tên T bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch; Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 260, Điều 290, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Khánh M phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Khánh M 02 (hai) năm tù. Thời hạn t tính từ ngày 20/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi số 582 PC09, có chữ ký của Trần Khánh M, Dương Minh V, Đoàn Văn T, Nguyễn Ng c H, Nguyễn Ng c D hình d u tr n đỏ của Công an phường T, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương và đóng d u niêm phong bằng d u tr n đỏ của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Theo Kết luận giám định số 582(622) KL-KTHS ngày 26/01/2024 và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 21 01 2024 thì bên trong có: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa Methamphetamine, có khối lượng sau giám định: 0,2272 gam.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 134.24 ngày 26/6/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí T a án;

Buộc bị cáo Trần Khánh M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ