- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Phú Q, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2024/HS-PT Ngày: 14/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Hà
Bà Đỗ Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phương Thủy là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở TAND tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 146/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Đào Phú Q, do có kháng cáo của bị cáo Đào Phú Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo: Đào Phú Q, sinh năm 1993; nơi sinh: Huyện P, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn X, sinh năm 1960 và bà Hồ Thị N, sinh năm 1961; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/10/2023, sau khi làm việc tại khu tái định cư ở xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, bị cáo Đào Phú Q (đã có giấy phép lái xe theo quy định, âm tính với ma túy, nồng độ cồn trong hơi thở 0.000mg/L) điều khiển xe mô tô biển số 77E1- 393.04 chở ông Võ Thanh H đi từ huyện T về huyện P theo Tỉnh lộ 640. Trên đường đi, đến khoảng 17 giờ 25 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô chở ông H đi qua khu vực cầu G, thuộc thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; tốc độ phương tiện do Q điều khiển là khoảng 45km/giờ. Khi qua cầu G khoảng 500 mét, Q nhìn thấy phía trước đường khoảng 50 mét có bà Trần Thị H1 đang đi bộ sang đường theo hướng từ phải sang trái (theo hướng Quí đang di chuyển). Quí hãm phanh, giảm tốc độ phương tiện lại thì quan sát thấy bà H1 dừng lại ở vị trí chưa đến tim đường (bà H1 dừng lại trên phần đường Q đang di chuyển đến). Thấy vậy, Q tăng ga, điều khiển phương tiện đi sang phần đường ngược chiều để tiếp tục di chuyển về hướng huyện P. Khi Q điều khiển xe mô tô đi đến cách bà H1 khoảng 10 mét thì Q thấy bà H1 tiếp tục đi bộ về phía trước để sang đường. Khi bà H1 đi bộ đến giữa phần đường ngược chiều thì Q điều khiển xe mô tô chạy đến, tông trực diện vào người bà H1. Sau va chạm, bà H1 bị té ngã nằm trên đường; xe mô tô bị ngã, trầy xước; Q và ông H bị ngã nhưng không bị thương tích gì đáng kể. Quí dắt xe mô tô đã bị ngã trên đường vào để trong sân nhà người dân gần đó, rồi cùng với gia đình bà H1 đưa bà H1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu; đến ngày 05/11/2023 bà Trần Thị H1 tử vong.
Hiện trường vụ tai nạn được mô tả cụ thể trong sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
Tại Kết luận giám định tử thi số: 487/KLGĐTT-KTHS ngày 14/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của bà Trần Thị H1 là do chấn thương sọ não điều trị không hồi phục.
Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra, Đào Phú Q đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Trần Thị H1 số tiền: 50.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Phú Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Đào Phú Q 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, bị cáo Đào Phú Q kháng cáo xin được hưởng cải tạo không giam giữ, tại phiên tòa bị cáo xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện viện kiểm sát đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Phú Q, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đào Phú Q khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 28/10/2023, tại Km 14 + 100, Tỉnh lộ 640 đoạn qua thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định bị cáo Đào Phú Q (có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô biển số 77E1-393.04 tham gia giao thông không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường, không nhường đường cho người đi bộ qua đường đã gây tai nạn với bà Trần Thị H1 đang đi bộ sang đường. Hậu quả làm bà Trần Thị H1 tử vong. Hành vi của bị cáo vi phạm vào khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác và trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; gia đình bị hại làm đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, cũng xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn như bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ đã hết tuổi lao động có xác nhận của chính quyền địa phương đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại cấp phúc thẩm.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, quyết tâm sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nên HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội thì bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Phú Q, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
2. Xử phạt bị cáo Đào Phú Q 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đào Phú Q cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đào Phú Q không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TANDTC - VKSND tỉnh Bình Định; - CQHSNVCSCA tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT CA huyện T; - Cơ quan THAHS huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định, - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Minh Dũng |